|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1722/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Đặng Thị Thu Oanh
- 2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh N – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2083/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 5500/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị M, sinh năm 1972
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn G, sinh năm 1972
Nơi đăng ký thường trú: số nhà F, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: số A Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi đăng ký thường trú: số nhà F, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Nơi cư trú: số I Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tất cả các đương sự đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Trịnh Thị M trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tấn G có tìm hiểu nhau, tự nguyện sống chung từ năm 2000 nhưng chưa đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm về lối sống, tính cách và quan hệ tình cảm, thường xuyên xảy ra cãi vã nên không còn tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt. Ông bà đã sống ly thân hơn một năm nay. Nay bà cảm thấy không còn tình cảm với ông G, không thể hàn gắn đoàn tụ, do bà và ông G chưa đăng ký kết hôn nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Nguyễn Tấn G.
Về con chung: Bà M trình bày có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 31/3/2001 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà M xác định sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Bà M tự khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho ông Nguyễn Tấn G đến Tòa án để trình bày lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông G đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông G và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trịnh Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Thị M với ông Nguyễn Tấn G; Về con chung: 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 31/3/2001 đã trưởng thành; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Không có; Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trịnh Thị M nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Tấn G; ông G có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trịnh Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Tấn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
- Xét yêu cầu của đương sự:
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trịnh Thị M phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bà Trịnh Thị M và ông Nguyễn Tấn G sống chung từ năm 2000 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm về lối sống, tính cách và quan hệ tình cảm, thường xuyên xảy ra cãi vã nên không còn tìm được tiếng nói chung, tình cảm lạnh nhạt, đã sống ly thân hơn một năm nay.
Quá trình giải quyết vụ án, ông G không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định. Tuy nhiên, tại Công văn số 91/UBND ngày 18/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng trả lời xác minh cho Tòa án về việc đăng ký kết hôn và sao lục tài liệu cũng thể hiện nội dung từ năm 2000 đến nay không tìm thấy tên bà M và ông G trong sổ lưu đăng ký kết hôn nên không có cơ sở cấp trích lục kết hôn của bà M và ông G được. Bà M và ông G sống chung từ năm 2000, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 14 và khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét thấy yêu cầu của bà M về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông G là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Bà M trình bày có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 31/3/2001 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà M xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Bà M tự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trịnh Thị M với ông Nguyễn Tấn G.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Tấn H, sinh ngày 31/3/2001 đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Bà M xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Bà M tự khai không có.
- Về án phí: Bà Trịnh Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà M đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: 0042402 ngày 19/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 1722/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 1722/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
