Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1721/2024/DS-ST
Ngày: 26 - 8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Phương
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Nhơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Lan - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 451/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 500/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 407/2024/QĐST-DS ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Bà Trần Ngọc A
Địa chỉ: 1 H, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Thu H
Địa chỉ: 2 N, phường I, quận G, TP . Hồ Chí Minh
(Theo giấy ủy quyền ngày 29/7/2024 tại Văn phòng C, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh).

Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ1
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công L
Địa chỉ: Tầng B Tòa nhà A G, số D Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Việt H1
Địa chỉ: Tầng B Tòa nhà A G, số D Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo giấy ủy quyền số 12/2024/UQ-NSG ngày 26/6/2024 của Công ty Cổ phần Đ1).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2024; bản tự khai; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Trần Ngọc A trình bày:

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, Công Ty Cổ Phần Đ1 có ký kết một Hợp Đồng Thỏa Thuận Đặt Cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 với bà Trần Ngọc H2 với nội dung của Thỏa Thuận Đặt Cọc là : Công Ty Cổ Phần Đ1 đồng ý bán cho bà Trần Ngọc H2 căn hộ A04-03 thuộc dự án HIGH INTELA với số tiền: 1.629.097.000 đồng. Và đã nhận số tiền cọc của bà Trần Ngọc H2 là: 325.819.400 đồng. (có phiếu thu đính kèm). Đã qua 05 năm mà Công Ty Cổ Phần Đ1 vẫn không thực hiện hợp đồng, vi phạm luật kinh doanh bất động sản, huy động vốn trái phép. Quá trình thực hiện hợp đồng ngày 26/8/2021 bà Trần Thu H3 chết, nên bà Trần Ngọc A đã cung cấp đầy đủ tất cả bản chính các chứng từ và Văn Bản Thỏa Thuận Phân Chia T do bà Trần Ngọc H2 đứng tên và bà Trần Ngọc A là người được hưởng di sản bà Trần Ngọc H2 để lại.

Ngày 24 tháng 08 năm 2023, Công Ty Cổ Phần Đ1 và bà Trần Ngọc A đã ký biên bản thanh lý hợp đồng số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018. Công Ty Cổ Phần Đ2 xác nhận số tiền còn nợ là: 490.996.446 đồng (bao gồm số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đ) và cam kết thanh toán trả trong vòng 10 ngày sau ngày 31 tháng 12 năm 2023 nhưng vẫn không thực hiện. Bà Trần Ngọc A đã trực tiếp đến Công Ty Cổ Phần Đ2 và liên hệ qua điện thoại nhiều lần nhưng phía bên Công Ty Cổ Phần Đ2 vẫn không thực hiện chi trả. Công Ty Cổ Phần Đ2 tiếp tục lừa dối khách hàng điều này là vi phạm hợp đồng và vi phạm pháp luật. Từ những căn cứ trên, chúng tôi kính đề nghị Tòa Án:

Tuyên buộc Công Ty Cổ Phần Đ1 thanh toán ngay cho bà Trần Ngọc A số tiền còn nợ như trên Biên bản thanh lý số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 là 490.996.446 đồng và tiền lãi từ ngày 10/01/2024 đến ngày 10/7/2024 là 22.400.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng). Bị đơn còn phải trả lãi phát sinh từ ngày 11/7/2024 cho đến khi hết nợ. Đại diện nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty Cổ phần Đ1 – Đại diện theo ủy quyền ông Dương Đức Đ trình bày:

Ngày 11/10/2018, Công ty Cổ phần Đ1 (“Công ty”) và bà Trần Ngọc H2 (“chị ruột của Nguyên đơn”) ký kết Thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 (Sau đây gọi là “TTĐC”) để đặt cọc một số tiền đảm bảo cho ký kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai đối với căn hộ số A04-03 thuộc Dự án H tại Đại lộ V, phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh với số tiền đặt cọc là 325.819.400 (Bằng chữ:Ba trăm hai mươi lăm triệu tám trăm mười chín nghìn bốn trăm đồng) (Sau đây gọi là “Tiền Đặt Cọc”).

Sau khi bà Trần Ngọc H2 qua đời thì phần di sản của bà để lại thì người đồng thừa kế của bà H2 đã đồng ý tặng cho đối với phần di sản là quyền và nghĩa vụ phát sinh tại thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và các phụ lục đính kèm do bà Trần Ngọc H2 để lại theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 010802/DS được công chứng vào ngày 21/07/2023 tại phòng công chứng Đặng Văn K cho bà Trần Ngọc A.

Ngày 24 tháng 08 năm 2023, Công Ty Cổ Phần Đ1 và bà Trần Ngọc A đã ký biên bản thanh lý hợp đồng A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018. Theo đó Công Ty Cổ Phần Đ2 xác nhận số tiền còn nợ là: 490.996.446 đồng (bao gồm số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đ) và cam kết thanh toán trả trong vòng 10 ngày sau ngày 31 tháng 12 năm 2023.

Nay Công Ty Cổ Phần Đ1 thừa nhận còn nợ và đồng ý trả nợ cho bà Trần Ngọc A số tiền là: 490.996.446 đồng và số tiền lãi phát sinh từ ngày 10/01/2024 đến ngày 10/7/2024 là 22.400.000 đồng. Sau khi trả nợ xong đề yêu cầu bà Trần Ngọc A trả lại cho Công ty các giấy tờ bản chính theo khoản 1.5 Điều 1 của biên bản thanh lý ngày 24/8/2023 gồm: Thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 11/10/2018 và các hồ sơ chứng từ liên quan khác (nếu có).

Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn, nên bị đơn chưa đưa ra được kế hoạch trả nợ cho nguyên đơn, do đó đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra bị đơn không có ý kiến và yêu cầu nào khác.

+ Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Ngọc A - Đại diện theo ủy quyền bà Ngô Thị Thu H trình bày:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản hòa giải đã trình bày. Nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 có trách nhiệm trả toàn bộ nợ cho bà Trần Ngọc A với số tiền là: 490.996.446 đồng, theo biên bản thanh lý hợp đồng số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023 và tiền lãi phát sinh từ ngày 10/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 26.506.217 đồng. Tổng cộng Công Ty Cổ Phần Đ1 phải trả cho bà Trần Ngọc A là 517.502.663 đồng (năm trăm mươi bảy triệu năm trăm lẽ hai ngàn sáu trăm sáu mươi ba đồng). Bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 còn phải tiếp tục trả lãi suất theo quy định của nguyên đơn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.

+ Tại phiên tòa bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 - Đại diện theo ủy quyền ông Phạm Việt H1 trình bày như sau:

Tại phiên Tòa bị đơn có đại diện theo ủy quyền mới là Phạm Việt H1 giữ nguyên ý kiến như đại diện theo ủy quyền ông Dương Đức Đ đã trình bày trước đây trong quá trình tố tụng tại bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản hòa giải đã trình bày. Bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 xác nhận số nợ và đồng ý trả nợ cho nguyên đơn Trần Ngọc A số tiền còn nợ là 490.996.446 đồng, theo biên bản thanh lý hợp đồng số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023. Do khó khăn về kinh tế nên bị đơn không đưa ra được thời hạn trả số trên cho nguyên đơn bà Trần Ngọc A, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn không đồng ý trả lãi suất theo thỏa thuận cho nguyên đơn bà Trần Ngọc A từ ngày 10/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là 26.506.217 đồng bởi: Theo thỏa thuận tại điểm 1.3 và 1.5 Điều 1 của biên bản thanh lý hợp đồng số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023 có nội dung: “Tiến độ thanh toàn: Bên A thanh toán cho bên B trong vòng 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày 31/12/2023 với điều kiện bên B hoàn tất nghĩa vụ quy định tại khoản 1.5 Điều nay”. Theo điểm 1.5 Điều 1 của biên bản thanh lý hợp đồng có nội dung: “Bên B có trách nhiệm hoàn trả đủ cho bên A thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 11/10/2018 và các hồ sơ chứng từ liên quan khác (nếu có)”. Như vậy, với thỏa thuận nêu trên bên nguyên đơn đã vi phạm thỏa thuận chưa thực hiện trả cho bị đơn thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 11/10/2018 và các hồ sơ chứng từ liên quan khác, nên chưa làm phát sinh nghĩa vụ lãi chậm trả của bị đơn đối với nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40; Đều 63; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự
  • - Căn cứ theo quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119, 351, 651, khoản 2 Điều 656 của Bộ luật dân sự 2015
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn bà Trần Ngọc A là 490.996.446 đồng. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn chịu lãi phát sinh trên số tiền còn thiếu 490.996.446 đồng từ ngày 10/01/2024 đến nay.

Về án phí: Bị đơn khải chịu án phí có giá ngạch theo quy định đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Trần Ngọc A khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 có trụ sở hoạt động tại Tầng B Tòa nhà A G, số D Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Căn cứ vào hợp đồng đặt cọc số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và căn cứ vào biên bản thanh lý số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 giữa nguyên đơn bà Trần Ngọc A và bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1. Do đó có cơ sở xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Ngọc A buộc bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 thanh toán số tiền 490.996.446 đồng

Xét thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và các phụ lục đính kèm do bà Trần Ngọc H2 để lại theo văn bản thỏa thuận phân chia di sản số 010802/DS được công chứng vào ngày 21/07/2023 tại phòng công chứng Đặng Văn K cho bà Trần Ngọc A. Xét biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 giữa Công Ty Cổ Phần Đ1 và bà Trần Ngọc A phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự. Việc giao kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí thỏa thuận mang tính tự nguyên giữa đôi bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội, được ký kết giữa cá nhân và pháp nhân có thẩm quyền nên có hiệu lực pháp luật.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Ngọc A và bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 thống nhất được toàn bộ nội dung về thỏa thuận 490.996.446 đồng (trong đó bao gồm số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đ) giữa Công Ty Cổ Phần Đ1 và bà Trần Ngọc A. Theo đó Công Ty Cổ Phần Đ1 thừa nhận còn nợ và đồng ý trả nợ cho bà Trần Ngọc A tổng cộng 490.996.446 đồng (trong đó bao gồm số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đ) và cam kết thanh toán trả trong vòng 10 ngày sau ngày 31 tháng 12 năm 2023. Kể từ ngày ký biên bản thanh lý hợp đồng, Công Ty Cổ Phần Đ1 chưa thực hiện trả nợ cho bà Trần Ngọc A mặc dù mà bà Trần Ngọc A nhắc nợ nhiều lần. Như vậy, đây là những tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận, do đó không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo quy định tại Điều 1, Điều 2 biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 giữa Công Ty Cổ Phần Đ1 và bà Trần Ngọc A thì Công Ty Cổ Phần Đ1 phải thanh toán cho bà Trần Ngọc A trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ sau ngày 31/12/2023 tổng số tiền là 490.996.446 đồng (trong đó bao gồm số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đ). Việc nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và thỏa thuận thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 422 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó các bên đương sự chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023, nên việc bị đơn chưa thực hiện việc trả tiền cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Do vậy, nguyên đơn bà Trần Ngọc A khởi kiện bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 trả lại số tiền 490.996.446 đồng theo thỏa thuận trong biên bản lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023 và bị đơn cũng đồng ý trả nợ cho nguyên đơn số tiền 490.996.446 đồng là phù hợp, nên có cơ sở để chấp nhận.

[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 10/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/8/2024 là 26.506.217 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của Bộ luật dân sự kể từ nguyên đơn có đơn yêu cầu Thi hành án.

Theo thỏa thuận của nguyên đơn bà Trần Ngọc A và bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 tại biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023. Tại điểm 1.3 Điều 1 có nội dung: “Tiến độ thanh toàn: Bên A thanh toán cho bên B trong vòng 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày 31/12/2023 với điều kiện bên B hoàn tất nghĩa vụ quy định tại khoản 1.5 Điều nay”. Theo điểm 1.5 Điều 1 của biên bản thanh lý hợp đồng có nội dung: “Bên B có trách nhiệm hoàn trả đủ cho bên A thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 11/10/2018 và các hồ sơ chứng từ liên quan khác (nếu có)”. Theo đó tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định chưa thực hiện các điều khoản nay, nguyên đơn vẫn đang còn giữ bản chính thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 11/10/2018 và phiếu thu tiền cọc. Nguyên đơn bà Trần Ngọc A cho rằng có đến trụ sở của bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 để giao trả hợp đồng và các chứng từ có liên quan nhưng phía bị đơn từ chối nhận, nhưng không có các tài liệu chứng cứ nào chứng minh nội dung này, bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 không thừa nhận.

Như vậy, nguyên đơn bà Trần Ngọc A đã vi phạm nghĩa vụ tại điểm 1.3 và 1.5 Điều 1 của biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023 chưa thực hiện trả Thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và chứng từ kèm theo, nên căn cứ khoản 3 Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015 không có cơ sở để chấp nhận đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn.

Theo biên bản thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ký kết ngày 24/8/2023 giữa nguyên đơn bà Trần Ngọc A và bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 không có thỏa thuận với nhau về lãi. Đồng thời nguyên đơn bà Trần Ngọc A yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét buộc bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 trả lãi của số tiền phải thi hành án, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có đơn yêu cầu Thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét thời hạn thanh toán: Tại phiên tòa bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 thống nhất số tiền phải trả cho nguyên đơn bà Trần Ngọc A là 490.996.446 đồng nhưng không đưa ra mốc thời gian thanh toán khi nào. Giữa nguyên đơn và bị đơn có thể thỏa thuận với nhau về thời gian thanh toán số tiền còn nợ khi đến hạn, nhưng không thỏa thuận được. Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn ..”. Pháp luật không quy định người vay được trả dần do hoàn cảnh khó khăn. Việc trả dần hay không do hai bên cùng thỏa thuận nhưng nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của bị đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên căn cứ vào các Điều 116, 117, 118; 119; 328, 351, 357, 418, 422, 468; 651; khoản 2 Điều 656 của Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

- Bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.639.858 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm ba mươi chín ngàn tám trăm năm tám đồng).

- Nguyên đơn bà Trần Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần lãi không được cấp nhận là 1.325.311 đồng. Được cấn trừ vào số tiền đã nộp là 12.638.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018741 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Ngọc A còn được nhận lại số tiền chênh lệch là 11.309.689 đồng (mười một triệu ba trăm lẽ chín ngàn sáu trăm tám chín đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 116, 117, 118; 119; 328, 351, 357, 418, 422, 468; 651; khoản 2 Điều 656 của Bộ luật dân sự 2015

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2022),

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc A.

Buộc Công Ty Cổ Phần Đ1 phải trả cho bà Trần Ngọc A tổng số tiền 490.996.446 đồng (bốn trăm chín mươi triệu chín trăm chín sáu ngàn bốn trăm bốn sáu đồng). Trong đó số tiền đã đặt cọc 325.819.400 đồng và số tiền lãi suất được tính từ 11/10/2018 đến 31/12/2022 là 165.177.046 đồng. Theo thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018 và thỏa thuận thanh lý hợp đồng số: A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 24/8/2023.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Ngọc A buộc bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 trả lãi đối với phần lãi trên số tiền còn nợ kể từ ngày 10/01/2024 đế ngày 26/8/2024 với số tiền lãi là 26.506.217 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm lẽ sáu ngàn hai trăm mười bảy đồng).

Sau khi Công Ty Cổ Phần Đ1 thanh toán xong nợ, bà Trần Ngọc A phải trả lại cho Công Ty Cổ Phần Đ1 bản chính các giấy tờ liên quan gồm: Bản chính Thỏa thuận đặt cọc số A04-03/TTĐC-HIGH INTELA/2018 ngày 11/10/2018; bản chính phiếu thu tiền cọc; các hồ sơ chứng từ khác có liên quan (nếu có).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Bị đơn Công Ty Cổ Phần Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.639.858 đồng (Hai mươi ba triệu sáu trăm ba mươi chín ngàn tám trăm năm tám đồng).

Nguyên đơn bà Trần Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần lãi không được cấp nhận là 1.325.311 đồng. Được cấn trừ vào số tiền đã nộp là 12.638.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018741 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Ngọc A còn được nhận lại số tiền chênh lệch là 11.309.689 đồng (mười một triệu ba trăm lẽ chín ngàn sáu trăm tám chín đồng).

4. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014 và năm 2022).

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:
- TAND TPHCM;
- VKSND quận Bình Thạnh;
- CC THADS quận Bình Thạnh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1721/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1721/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Trần Ngọc A với Công ty Cổ phần Đ1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger