Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Păng Ting Nock
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/TLST- HS ngày 03/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T, tên gọi khác: không. Sinh ngày 14 tháng 10 năm 1983, tại: Bến Tre; HKTT: 347B ấp H, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở hiện nay: 7 N, Phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn S, sinh năm: 1947, con bà Phạm Thị D, sinh năm: 1947; có vợ là Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh năm 1986 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Tại Bản án số 17/HSST ngày 14/4/2005 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/10/2004, đóng án phí vào ngày 01/7/2005; Tại Bản án số 22/HSST gày 20/3/2007 của Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 10 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21/01/2016, đóng án phí vào ngày 07/9/2007.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị bắt lại ngày 10/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • Anh Phạm Bảo T1, sinh năm 1992. Trú tại: Chung cư S, đường số A, Phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • Anh Dương Kiều M, sinh năm 1994. Trú tại: 819/27 Quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • Anh Lơ Mu Ge Ni S1, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn S, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
  • Chị Lê Quỳnh D1, sinh năm 2000. Trú tại: G T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là người nghiện hút ma túy, do không có tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng nên T nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Thực hiện ý định trên, T đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đ, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào trưa ngày 29/01/2024, Phạm Văn T một mình điều khiển xe mô tô biển số: 49V7-5063 (Thọ mua lại của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch) đến Bệnh viện H, địa chỉ: Đ L, Phường A, thành phố Đ, tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến phòng bệnh số 008 thì T nhìn thấy anh Phạm Bảo T1, đang nằm ngủ trên giường và để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng hồng trên bàn, cạnh giường nên T đi vào trong phòng trộm điện thoại di động trên rồi rời đi. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại trên, T đã giữ lại để sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ: 01 (Một) Điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu trắng hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng đến ngày 29/01/2024 có giá trị là 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại điện thoại cho anh T1, anh T1 không có yêu cầu gì thêm.

Lần 2: Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 29/01/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô 49V7-5063 đến Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Lâm Đồng, địa chỉ: C H, Phường I, thành phố Đ, tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến phòng 306, T nhìn thấy anh Dương Kiều M đang nằm ngủ, bên cạnh anh M có 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu xanh dương đang cắm sạc. T đến lấy trộm chiếc điện thoại trên bỏ vào trong túi quần rồi rời đi. Sau khi lấy trộm chiếc điện thoại trên, T đem đến tiệm Đ tại B P, Phường B, thành phố Đ bán cho anh Nguyễn Duy P với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết số tiền này.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Đ xác định: 01 (Một) điện thoại di động Iphone XS Max, màu xanh dương, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng đến ngày 29/01/2024 có giá trị là: 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra trả lại điện thoại cho anh M, anh M không có yêu cầu gì thêm.

Lần 3: Vào khoảng 03 giờ 30 ngày 30/01/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô 49V7-5063 đến Bệnh viện Đ1, tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến khoa truyền nhiễm, T đi lên tầng 02 và đi vào khu điều trị đặc biệt nhìn thấy ở dãy hành lang có anh Lơ Mu Ge Ni S1 đang nằm ngủ, T nhìn thấy bên cạnh anh N Sê có 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh đen. T đi đến bên cạnh anh Ni S1 lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi bỏ đi. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại thì T cất giữ điện thoại trong người. Đến khoảng 06 giờ 00 cùng ngày, T tiếp tục điều khiển xe mô tô 49V7-5063 quay lại Bệnh viện H nhằm mục đích tìm kiếm tài sản để lấy trộm thì bị bảo vệ của Bệnh viện H phát hiện và trình báo cơ quan công an. Tại cơ quan công an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP Đ xác định: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng đến ngày 30/01/2024 có giá trị là: 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã điện thoại anh Lơ Mu Ge Ni S1, anh Lơ Mu Ge Ni S1 không có yêu cầu gì thêm.

Lần 4: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/03/2024, T điều khiển xe mô tô hiệu H1, nhãn hiệu Vision màu đỏ (T mượn của một người bạn, không rõ nhân thân, lai lịch) đến Bệnh viện nhi tỉnh Đ1, số E đường T, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến phòng số 08, T nhìn thấy bên trong phòng có 01(một) chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax, 256GB, màu xám của chị Lê Quỳnh D1 đang để trên giường bệnh. Lợi dụng trong phòng không có ai, T đi vào phòng lấy điện thoại trên đem đến tiệm điện thoại Chi Lăng M1, địa chỉ: D P, Phường I, thành phố Đ bán cho anh Nguyễn Việt C với giá 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 54/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 03 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định: 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12 Promax, 256GB, màu xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng đến ngày 16/03/2024 có giá trị là: 10.300.000đ (Mười triệu ba trăm nghìn đồng).

Ngày 04/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã trả lại điện thoại cho chị D1, chị D1 không có yêu cầu gì thêm.

Tổng giá trị tài sản bị cáo Phạm Văn T chiếm đoạt là: 23.300.000₫ (hai mươi ba triệu ba trăm ngàn đồng).

Vật chứng thu giữ chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 28/6/2024 gồm: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda màu nâu đỏ, biển số 49V7-5063, số khung C100M0178499, số máy C100ME0178499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Tại Bản cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố và đề nghị:

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Văn T từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda màu nâu đỏ, biển số 49V7-5063, số khung C100M0178499, số máy C100ME0178499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, đã qua sử dụng, để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.

Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày từ 29/01/2024 đến ngày 16/3/2024, bị cáo Phạm Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 23.300.000 đồng. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị đưa ra xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình cũng cần xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ chuyển sang cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 28/6/2024 gồm: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda màu nâu đỏ, biển số 49V7-5063, số khung C100M0178499, số máy C100ME0178499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Qua tra cứu thì xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký phương tiện giao thông cơ giới, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ đã thông báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Vì vậy, giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Phạm Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/4/2024, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024.

  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tuyên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ: 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda màu nâu đỏ, biển số 49V7-5063, số khung C100M0178499, số máy C100ME0178499 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Công an thành phố Đà Lạt;
  • - THA thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Vân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 172/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 24 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger