Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/DS-ST

Ngày: 29-7-2024.

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Võ Thanh Nga
  • 2/ Ông Lê Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 357/2023/DSST ngày 22/12/2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 492/2024/QĐXXST-DS ngày 03/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 626/2024/QĐST-DS giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam)

Địa chỉ: Số I P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm: 2000

Địa chỉ liên lạc: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Nguyễn Trọng L, sinh năm: 1997

Địa chỉ: Số B đường T, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là Công ty T trình bày: Ngày 12/05/2022 Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số: 3155108 (gọi tắt là HĐTD) về việc cấp tín dụng cho Ông Nguyễn Trọng L với khoản vay trị giá 26.650.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong HĐTD cho Ông Nguyễn Trọng L, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của Ông Nguyễn Trọng L. Theo HĐTD, Ông Nguyễn Trọng L có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền 1.690.632 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 15/06/2022 đến ngày 15/05/2024 cho Công ty.

Sau khi được giải ngân Ông Nguyễn Trọng L đã thanh toán 5.107.896 đồng (3 kỳ). Tuy nhiên, từ ngày 15/8/2022 đến nay Ông Nguyễn Trọng L đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay phía Công ty T đã giải ngân.

Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu Ông Nguyễn Trọng L thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho Ông Nguyễn Trọng L biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, Ông Nguyễn Trọng L vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng Ông Nguyễn Trọng L vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc Ông Nguyễn Trọng L thanh toán cho Công ty T1 số tiền tạm tính đến ngày 29/7/2024 là: 52.043.832 đồng.

Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc Ông Nguyễn Trọng L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 30/07/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Cụ thể, tính đến ngày 29/07/2024 tổng số tiền gốc và lãi của Ông Nguyễn Trọng L cần phải thanh toán là: 52.043.832 đồng. Trong đó:

  • Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.523.575 đồng.
  • Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 11.126.865 đồng.
  • Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn ( lãi quá hạn): 14.397.319 đồng.
  • Số tiền lãi chậm trả: 1.422.073 đồng.

Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc Ông Nguyễn Trọng L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 30/07/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Ông Nguyễn Trọng L vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải. Không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là Công ty T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là đề nghị bị đơn Ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 29/7/2024 tổng cộng là 52.043.832 đồng (trong đó: nợ gốc là 24.523.575 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.126.865 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.971.319 đồng, tiền lãi chậm trả là 1.422.073 đồng). Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ngoài ra, Ông Nguyễn Trọng L còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 30/07/2024 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Ông Nguyễn Trọng L vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 3155108 của Công ty T thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở vì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại hợp đồng đã ký kết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp:

Công ty T khởi kiện yêu cầu Ông Nguyễn Trọng L thanh toán số nợ còn thiếu của Hợp đồng tín dụng. Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1997. Nơi cư trú: số 266/9/4 đường T, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh”.

Tại thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, Ông Nguyễn Trọng L có địa chỉ nơi cư trú tại: số B đường T, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Đơn tường trình của nguyên đơn thì nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, địa chỉ: số B đường T, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Trọng L. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về thời hiệu khởi kiện:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 12/05/2022, Công ty T ký Hợp đồng tín dụng số: 3155108 về việc cấp tín dụng cho Ông Nguyễn Trọng L với khoản vay trị giá 26.650.000 đồng, lãi suất 44%/năm.

Kể từ ngày 15/8/2022 đến nay Ông Nguyễn Trọng L đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay phía Công ty T đã giải ngân.

Ngày 11/10/2023, Công ty T đã nộp đơn khởi kiện và đã được Tòa án cấp Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện. Như vậy, vụ án dân sự vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

1.4. Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn tại địa chỉ nơi cư trú nhưng Ông Nguyễn Trọng L không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn Ông Nguyễn Trọng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai có mặt tại phiên tòa vào ngày 29/07/2024 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về pháp luật nội dung:

2.1. Yêu cầu khởi kiện của Công ty T về việc buộc Ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng với số tiền là 24.523.575 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của nguyên đơn Công ty T thì có cơ sở khẳng định: Ngày 12/05/2022, Ông Nguyễn Trọng L đã ký Hợp đồng tín dụng với Công ty T. Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Trọng L, Công ty T đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với giá trị là 26.650.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Lê Thị L1. Theo Hợp đồng tín dụng, Ông Nguyễn Trọng L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.690.632 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 15/06/2022 đến ngày 15/05/2024. Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 15/08/2022 Ông Nguyễn Trọng L đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho Ông Nguyễn Trọng L biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, Ông Nguyễn Trọng L vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T. Như vậy, Ông Nguyễn Trọng L còn nợ Công ty T số tiền là 24.523.575 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Yêu cầu khởi kiện của Công ty T về việc buộc Ông Nguyễn Trọng L phải có trách nhiệm thanh toán số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 11.126.865 đồng; số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn ( lãi quá hạn): 14.971.319 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.422.073 đồng phát sinh từ ngày 25/8/2024 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết.

Đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại hợp đồng tín dụng của Công ty T thì Ông Nguyễn Trọng L còn phải thanh toán phía công ty số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 29/07/202452.043.832 đồng. Ngoài ra, Ông Nguyễn Trọng L còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.3. Về thời hạn thanh toán:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Ông Nguyễn Trọng L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng tín dụng và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn Công ty T, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn Ông Nguyễn Trọng L vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
  • Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
  • Căn cứ vào Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011;
  • Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc Ông Nguyễn Trọng L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T số tiền nợ tạm tính đến 29/07/2024 tổng số tiền gốc và lãi của Ông Nguyễn Trọng L cần phải thanh toán là: 52.043.832 đồng. Trong đó:

  • Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 24.523.575 đồng.
  • Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 11.126.865 đồng.
  • Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn ( lãi quá hạn): 14.971.319 đồng.
  • Số tiền lãi chậm trả: 14.971.319 đồng.

Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 30/7/2024 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng Ông Nguyễn Trọng L phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Trọng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2,602,192 đồng (hai triệu sáu trăm linh hai ngàn một chăm chín mươi hai đồng).

H lại số tiền tạm ứng án phí 927.000 đồng (chín trăm hai mươi bảy ngàn đồng) Công ty T đã nộp theo biên lai số AA/2023/0042750 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tần Quốc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 172/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MIRAE ASSET-NGUYỄN TRỌNG LỰC
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger