Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 172/2024/HS-ST

Ngày: 29-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa – Giáo viên trường mầm non Hoa Bé Ngoan
  2. Ông Huỳnh Hữu Tường – Cán bộ hưu trí Công ty Công Ích Quận 12

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đô - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 23, 29 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 853/2024/QĐXXST ngày 27/6/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Chí T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/11/2005, tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã L, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi tạm trú: 244/17, Tổ B, Khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ văn hoá: Lớp 06/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Trần Ngọc E, sinh năm 1967; Con bà: Trương Thu H, sinh năm 1974; Có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1989 nhỏ nhất sinh năm 2003; Vợ con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 12 tháng 7 năm 2022 bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 128/QĐ-XPHC ngày 12/7/2022. Bị cáo đã đóng phạt vào ngày 22/7/2022.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 theo lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q1 ngày 14/12/2023 (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Thành C; Giới tính: Nam; Sinh ngày 26/12/2005, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 56/21, Tổ B, Khu phố B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: 330/60/9, Tổ G, ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: Lớp 07/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969; Con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1981; Có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2011; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo T, C: Ông Nguyễn Hoàng A là Luật sư thuộc văn phòng L (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Phan Ngọc T2, sinh năm: 1989

Địa chỉ: E đường H, Khu phố E, phường H, Quận A, Thafh phố H (Có đơn xét xử xin vắng mặt).

Người làm chứng: Bùi Anh T3; Địa chỉ: 1, Tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 15/12/2023, T, C và T3 gặp nhau tại tiệm I, địa chỉ số B, tổ B, Khu phố B, phường H, Quận A, C hỏi mượn T số tiền 200.000 đồng để trả tiền thuê phòng khách sạn nhưng T nói không có và rủ C, T3 đi trộm cắp tài sản đề bán lấy tiền tiêu xài thì và T3 đồng ý. Sau đó, T, C và T3 đi bộ về hướng đường HT 13, khi đến nhà trọ số E đường H, Khu phố E, phường H, Quận A, thấy có xe mô tô để tại lối đi, không người trông coi, cửa nhà trọ chốt nên T nói với C và T3 lấy trộm xe mô tô này. T nói C và T3 đứng cảnh giới. Sau khi quan sát không có người qua lại, T mở cửa cổng đi vào, T3 đứng tại cửa cổng cầm 01 cục đá và C đứng trên đường trước nhà trọ cảnh giới. T đi đến bên phải xe mô tô nhãn hiệu Sirius biển số 79V1-0232 của anh Phan Ngọc T2 dắt lùi ra khỏi cổng, đẩy vào hẻm C thuộc Khu phố E, phường H, Quận A, C và T3 chạy bộ theo sau, cả ba đi được một đoạn thì dừng lại, T dùng tay nối dây điện nguồn xe, đạp cần khởi động xe nhưng không khởi động được xe nên giao xe cho T3 dắt bộ đi trước, C và T đi bộ theo sau, sau đó C dùng chân phải đạp cần khởi động thì khởi động được máy xe. T điều khiển xe mô tô biển số 79V1-0232 chở T3 và C đến khách sạn H1, địa chỉ C N, Tổ B, Khu phố C, phường H, Quận A (nơi C và T3 thuê phòng trước đó), C và T3 đi vào khách sạn, còn T điều khiển xe mô tô biển số 79V1-0232 đưa về cất giấu tại nhà trọ, địa chỉ 244/17, tổ B, Khu phố B, phường H, Quận A. Tại đây, T truy cập mạng xã hội Facebook và đăng bán xe mô tô biển số 79V1-0232 thì có người (chưa xác định) hỏi mua xe với giá 800.000 đồng và hẹn giao nhận xe tại tỉnh Bình Dương.

Khoảng 16 giờ cùng ngày 15/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 79V1-0232 đến khách sạn H1 rủ C đi bán xe. C điều khiển xe mô tô biển số 79V1-0232 chở T đến khu đất trống trên đường Q, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì C xuống xe đợi, còn T điều khiển xe mô tô biển số 79V1-0232 đến lề đường Ngô Chí Q, thuộc Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bán xe cho một người thanh niên (chưa rõ lai lịch) với giá tiền 800.000 đồng. Sau đó, T và C đón xe ôm về đến trước khách sạn H1, T chia tiền bán xe mô tô biển số 79V1-0232 trộm cắp có được cho C 200.000 đồng rồi đi về (chưa chia tiền cho T3), số tiền còn lại 600.000 đồng T tiêu xài hết.

Sau khi phát hiện mất trộm xe mô tô, Phan Ngọc T2 đã đến Công an phường H trình báo, lập hồ sơ chuyển Cơ quan CSĐT Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua truy xét, ngày 20/12/2023, Công an Q1 đã triệu tập Nguyễn Thành C và Bùi Anh T3 đến làm việc và đã khai nhận cùng với Trần Chí T trộm cắp xe mô tô biển số 79V1-0232. Riêng đối với Trần Chí T, ngày 20/12/2023 bị Cơ quan CSĐT Công an Q1 tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam trong vụ án “Cố ý gây thương tích", đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q1 nên ngày 21/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã trích xuất Trần Chí T để làm việc, xác định địa điểm gây án và tiêu thụ tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng Hình sự Quận 12 đối với 01 (một) 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius. 1 màu đỏ bạc, biển số: 79V1-0232, tài sản đã qua sử dụng giá trị 6.000.000 đồng. (BL 158)

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • 200.000 đồng (là tiền bán xe mô tô biển số 79V1-0232, (Nguyễn Thành C giao nộp).
  • 01 USB lưu giữ tập tin video có liên quan đến vụ án.

Về phần trách nhiệm dân sự:

Đối với bị hại là anh Phan Ngọc T2, đề nghị bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Bị cáo T và bị cáo C đã bồi thường số tiền trên. Bị hại làm đơn bãi nại cho các bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T4; Nguyễn Thành C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo T4 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo C từ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C và bị cáo T4.

Người bào chữa cho bị cáo T4, C tranh luận: Thống nhất về tội danh mà bản cáo trạng truy tố. Tuy nhiên không đồng ý Viện Kiểm S truy tố bị cáo T4 và C theo điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo C và bị cáo T4 phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự vì C và T4, T3 không bàn bạc với nhau từ trước khi đi trộm cắp, các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn.

Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử xem cho bị cáo T4 và C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa hôm nay bị cáo T4 và C có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Ngoài ra cần xem xét cho bị cáo C phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi khả năng nhận thức còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án mức án theo đúng hành vi các bị cáo thực hiện.

Bị cáo Công khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, Bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền 200.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo T4 khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, bản ảnh xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 00 giờ 05 ngày 15/12/2023, Trần Chí T rủ Nguyễn Thành C và Bùi Anh T3 đi trộm cắp tài sản đề bán lấy tiền tiêu xài, thì tất cả đồng ý. Khi đến nhà trọ số E đường H, Khu phố E, phường H, Quận A, thấy có xe mô tô để tại lối đi, không người trông coi, cửa nhà trọ chốt nên T phân công T3 đứng tại cửa cổng cầm 01 cục đá và C đứng trên đường trước nhà trọ cảnh giới, còn T mở chốt cửa nhà trọ lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 79V1-0232 trị giá 6.000.000 đồng của anh Phan Ngọc T2. Sau đó, T bán xe trộm cắp được ở khu vực lề đường N, thuộc Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, cho một người thanh niên (chưa rõ lai lịch), với giá tiền 800.000 đồng và T chia cho C 200.000 đồng, số còn lại T tiêu xài hết.

Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Chí T và Nguyễn Thành C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội không có tổ chức vì không có sự phân công chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội từ trước, cũng không có sự thống nhất, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm từ trước, mà đến khi phát hiện có tài sản sơ hở thì T mới phân công cho C và T3 đứng cảnh giới còn T là người trực tiếp lấy tài sản vì vậy trong trường hợp này các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, hành vi của Trần Chí T và Nguyễn Thành C phạm tội theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

(Theo Nghị Quyết số 02/HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn bổ sung nghị quyết số 02 HĐTP ngày 51-1986 thì “phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Vì vậy, nếu việc thực hiện tội phạm giản đơn, không đòi hỏi phải có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo thì không phải là phạm tội có tổ chức. Thí dụ: Hai thanh niên muốn có tiều tiêu, nên rủ nhau đi ăn cắp xe đạp, khi gặp người để xe sơ hở đã phân công một người canh gác và một người lấy xe...”). Lập luận trên đây cũng là quan điểm của Hội đồng xét xử.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội.

Bị cáo T là người rủ bị cáo C (dưới 18 tuổi) thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Mặc khác bị cáo T cũng là người trực tiếp phạm tội, bị cáo T đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên bị cáo T phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo C. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Thành C cần xem xét cho bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội, theo các Điều 90, 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Đối với Bùi Anh T3, có hành vi trộm cắp tài sản nhưng đến thời điểm phạm tội mới 15 tuổi 02 tháng 05 ngày (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng) nên không xem xét xử lý hình sự. Công an Q1 đã thông báo vi phạm của T3 cho chính quyền địa phương biết, theo dõi, quản lý.

[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

- Về xử lý vật chứng:

  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền ngân hàng N 200.000 đồng là tiền bị cáo C được bị cáo T chia khi bán xe. Bị cáo công đã tự nguyện nộp vào ngân sách nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và làm đơn bãi nại cho các bị cáo.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo T và bị cáo C phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T4: 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 90, 91 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2023.

Căn cứ Điều 47, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền ngân hàng N 200.000 đồng theo phiếu thu ngày 15/3/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 89/QĐ-VKS, ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo T4 và C phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 172/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger