TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2023/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2023 | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Văn Thái;
- Các Hội thẩm nhân dân: bà Mai Tường Vi và bà Lê Thị Thanh Thủy;
- - Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Lã Hải Long - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2023/TLST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh T - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 08/7/1990; tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6 /12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Lê Thị H; có vợ là chị Vũ Thúy H1 (đã ly hôn); bị cáo chưa có con; tiền án: không; tiền sự: bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện tỉnh Quảng Ninh thời gian 18 tháng, từ ngày 20/5/2021đến 20/11/2022 chấp hành xong quyết định; nhân thân: ngày 30/7/2008, bị Tòa án nhân dân dân thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thi hành xong Bản án tháng 01/2009; ngày 09/10/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thi hành xong Bản án tháng 12/2012; ngày 25/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thi hành xong Bản án tháng 01/2020. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 14/7/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1982; nơi cư trú: Tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Anh Vũ Hồng S, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Tổ C, khu hai G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Người chứng kiến:
- - Anh Vũ Đức V, sinh năm: 1993; nơi cư trú: Tổ G, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: hồi 14 giờ 35 phút ngày 14/7/2023, tại khu vực tổ D, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố C phối hợp với Công an phường C bắt quả tang Phạm Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán. Đi cùng T còn có bạn là anh Nguyễn Văn T1. Cơ quan điều tra thu giữ của T: 01 vỏ bao thuốc lá vinataba, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (1,7x1,7)cm chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động Iphone vỏ màu vàng, lắp sim số 0704.151.595; số tiền 450.000 đồng tại túi áo ngực bên phải của T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen, không lắp biển số.
Quá trình điều tra xác định, trước đó vào khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, tại nhà của anh Nguyễn Văn T1 ở tổ E, khu C, phường C, T có bán cho anh Nguyễn Văn T1 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Anh T2 đã trả T 450.000 đồng tiền, còn nợ 50.000 đồng hẹn sẽ trả sau. Sau đó, anh T2 đã sử dụng hết số ma túy trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ của anh Nguyễn Văn T1: 01 điện thoại di động Samsung màu đen, lắp sim số 0967468765; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá và 01 túi nilon kích thước khoảng (1,7x1,7)cm có dính chất tinh thể màu trắng, do anh T1 giao nộp. Anh Tú trình bày, túi nilon trên do T đựng ma túy để bán cho T1 và T1 đã dùng bộ đồ sử dụng ma túy trên để sử dụng hết ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 1034 ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon kích thước (1,7x1,7)cm là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,298 gam; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá và 01 túi nilon thu giữ, có dính ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng; mẫu nước tiểu thu của Phạm Thanh T và Nguyễn Văn T1 có chất ma túy Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thanh T và anh Nguyễn Văn T1 khai nhận phù hợp nhau về thời gian, địa điểm thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy vào chiều ngày 14/7/2023 nêu trên. Sự việc còn có anh Vũ Hồng S, ngồi chơi tại nhà anh T1, chứng kiến. Sau khi mua được ma túy, anh T1 đã sử dụng hết tại nhà. Ngoài ra, T khai thêm: nguồn gốc ma túy bán cho anh T1 và T tàng trữ, do T thỏa thuận mua của người đàn ông tên T3 (không rõ lai lịch), có số điện thoại 0704.161.xxx vào ngày 12/7/2023, với giá 1.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận với T3 xong, T liên lạc và gặp Đặng Minh C, có số điện thoại 0972.300.xxx, tại khu vực đường T, phường C, vào khoảng 07 giờ cùng ngày để giao tiền và nhận 03 túi ma túy đá. T đã sử dụng hết 01 túi, bán 01 túi cho anh T1, còn 01 túi để ai hỏi mua sẽ bán, thì bị bắt quả tang vào ngày 14/7/2023.
Người làm chứng, anh Nguyễn Văn T1 và anh Vũ Hồng S khai nhận phù hợp với nhau về việc T có hành vi bán trái phép ma túy cho T1 ngày 14/7/2023; người chứng kiến là anh Vũ Đức V có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Phạm Thanh T và chứng kiến Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên và niêm phong số ma túy theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 150 /CT-VKS-CP ngày 30 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 33tháng tù đến 36 tháng tù về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt ngày 14/7/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định và 01 chiếc sim bên trong điện thoại Iphone; tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone và 450.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, không sai. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và người chứng kiến; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/7/2023; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định số 1034 và 1037/KL-KTHS ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ 20 phút ngày 14/7/2023, tại tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thanh T có hành vi bán trái phép 01 túi ma tuý, loại Methamphetamine, với giá 500.000 đồng, cho Nguyễn Văn T1 để T1 sử dụng. Tiếp đó, đến khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, T có hành vi tàng trữ trái phép 0,298 gam chất ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để bán, thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và có cơ sở pháp luật.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự quản lý, kiểm soát độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma túy khác gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Nó còn là một trong những nguyên nhân chủ yếu lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và làm phát sinh, gia tăng các tệ nạn xã hội, tội phạm khác, do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Thanh T có nhân thân xấu, đã 03 lần bị Tòa án kết án phạt tù về các tội “Mua bán trái phép
chất ma túy”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đã được xóa án tích; năm 2021, bị Tòa án Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng đến ngày 20/11/2022 chấp hành xong quyết định, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Nhưng cũng xét, giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước. Nhưng dù xem xét đến đâu cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 1034/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, lượng ma túy và mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và hiện không còn giá trị sử dụng; 01 chiếc sim điện thoại thu giữ trong máy điện thoại của Phạm Thanh T hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng thu giữ của Phạm Thanh T và số tiền 450.000 đồng, là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy mà có, cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại Samsung thu giữ của anh Nguyễn Văn T1, xác định là tài sản của T1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T1; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đen thu giữ của T, không lắp biển số, đã bị đục số khung, số máy, T khai mua của người không quen biết khoảng đầu tháng 7/2023, quá trình điều tra chưa xác định được rõ nguồn gốc, Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả nên tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Đối với đối tượng T3, T khai đã bán ma tuý cho T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ tên nên không đủ cơ sở làm rõ. Còn đối với Đặng Minh C (sinh năm 1974; trú tại Tổ E, khu D, phường C, thành phố C), Cơ quan điều tra đã xác minh xác định sáng ngày 12/7/2023, C ngủ tại nhà đến trưa cùng ngày và có người làm chứng, không gặp T bán ma túy như lời khai của T. C và T đã đối chất, kết quả các bên vẫn giữ nguyên lời khai, nên không đủ căn cứ xác định C có hành vi bán trái phép chất ma túy.
Đối với Nguyễn Văn T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
[8] Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt (ngày 14/7/2023).
Căn cứ vào: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 1034/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, lượng ma túy và mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 4 dãy số: 8401, 2205, 2428, 9049.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng; số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền vật chứng theo Biên bản giao nhận tài sản số 65/2023/BBBG-CQCSĐT ngày 01/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước C1.
Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 22/BB-THA lập ngày 08/11/2023 giữa Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
3. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: buộc bị cáo Phạm Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thái |
Bản án số 172/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 172/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh Tùng phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
