|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-ST
Ngày 26-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Tư
Bà Nguyễn Thị Biên (giáo viên hưu trí)
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên trung cấp và bà Nguyễn Minh H - Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với:
* Các bị cáo:
- Họ và tên: Dương Trung N, sinh ngày 28/10/2007, tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi cư trú: Số nhà A, ngách B, ngõ A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; con ông Dương Trung H1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1989; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo N:
- - Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989 (Có mặt)
- - Anh Dương Trung H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Cùng nơi thường trú và nơi cư trú: Số nhà A, ngách B, ngõ A, đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Anh Dương Trung H1 uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị P tham gia tố tụng theo Giấy uỷ quyền ngày 26/8/2024, được chứng thực tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang số 106, quyển số 01/2024 – SCT/CK,ĐC)
Người bào chữa cho bị cáo N:
Bà Đào Thị P1, Luật sư, Công ty L. Địa chỉ trụ sở: Số H đường X, Phường N, Thành phố B, Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Ông Hoàng Trọng N1, Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).
- Họ và tên: Nguyễn Huy H2, sinh ngày 17/11/2007, tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và nơi cư trú: Số nhà C, ngõ D, đường V, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 và bà Trịnh Thị H3, sinh năm 1986; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo H2:
- - Chị Trịnh Thị H3, sinh năm 1986 (Có mặt)
- - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (Có mặt)
Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ D, đường V, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Người bào chữa cho bị cáo H2:
Ông Hoàng Đức T1, Luật sư, Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ trụ sở văn phòng: Số A đường V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).
* Bị hại:
- TANG WEIFENG, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: N, H, Trung Quốc
Nơi cư trú: Lô CC3, tổ 1B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- JIN DEYONG, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: N, H, Trung Quốc
Nơi cư trú: Lô CC3, tổ 1B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- GAO TENGFEI, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: N, H, Trung Quốc
Nơi cư trú: Lô CC3, tổ 1B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- GUO ZI HANG, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: N, H, Trung Quốc
Nơi cư trú: Lô CC3, tổ 1B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- LUO WENHUI, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Nơi thường trú: Thiển Tây, T, Trung Quốc
Nơi cư trú: Lô CC3, tổ A, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
* Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại (TANG WEIFENG, JIN DEYONG, GAO TENGFEI, GUO ZI HANG, LUO WENHUI):
Chị Từ Thị T2, sinh năm 1989. Nghề nghiệp: Nhân viên hành chính công ty TNHH J. Nơi cư trú: Phòng 907 chung cư Q, Tòa nhà A, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Thân Trung H4, sinh ngày 04/02/2011 (Vắng mặt, không có lý do)
Người đại diện hợp pháp của cháu Thân Trung H4:
- - Chị Phạm Thu H5, sinh năm 1992 (Vắng mặt, không có lý do)
- - Anh Thân Quốc K, sinh năm 1993 (Vắng mặt, không có lý do)
Cùng nơi cư trú: Số A ngõ I đường N, tổ E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- Cháu Hoàng Minh Đ, sinh ngày 04/9/2011 (Vắng mặt, không có lý do)
Người đại diện hợp pháp của cháu Hoàng Minh Đ:
- - Chị Trương Thị D, sinh năm 1991 (Vắng mặt, không có lý do)
- - Ông Hoàng Đông H6, sinh năm 1984 (Vắng mặt, không có lý do)
Cùng nơi cư trú: Số nhà 5, ngõ 137 đường Nguyễn Công Hãng, tổ 2B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989 (Có mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 11, ngách 23, ngõ 100, đường Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Anh Dương Trung H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Dương Trung H1:
Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989 (Có mặt).
Cùng nơi cư trú: Số nhà 11, ngách 23, ngõ 100, đường Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Số 118, đường Chợ Thương, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Ông Trần Anh D1, sinh năm 1962 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Ki ốt 6+7 đường Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Ông Đoàn Thanh M, sinh năm 1976 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Số nhà 19B, ngõ 6 đường Trần Nguyên Hãn, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Hoàng D2, sinh năm 2000 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Thôn Phú Giã, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Anh Nguyễn Hoàng N2, sinh năm 1994 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Thôn P, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968 (Vắng mặt, không có lý do)
Nơi cư trú: Số nhà B đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang:
Bà Trần Thị H7 – Bí thư (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
* Trường Cao đẳng K1
(Vắng mặt, có đơn đề nghị không cử người tham gia tố tụng và đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Trung N, Nguyễn Huy H2, Thân Trung H4 và Hoàng Minh Đ đều trú tại phường T, thành phố B có quen biết nhau và thường xuyên tụ tập tại các quán game để chơi điện tử. Công ty TNHH J thuê dãy nhà liền kề của Hợp tác xã H8, địa chỉ: Lô C đường N, tổ A, phường T, thành phố B để cho công nhân người Trung Quốc ở. Tại gian số 2.1 có kê một bàn bi-a cho công nhân người Trung Quốc chơi giải trí. N và H4 đã nhiều lần đến đây chơi bi-a và nhìn thấy tại khu nhà có để xe đạp ở tầng 1 nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền. Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 19/01/2024, N cùng H2, H4 và Đ đã thực hiện 04 vụ trộm cắp được 05 chiếc xe đạp của công nhân người Trung Quốc, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 18 giờ ngày 07/01/2024, N cùng H4 và Đ đang chơi bi-a thì nhìn thấy chiếc xe đạp thể thao màu xám, nhãn hiệu SPX dựng ở chân cầu thang tầng 1, xe không có khóa. Chiếc xe này là của anh LUO WENHUI quốc tịch Trung Quốc để ở đó. Ba người rủ nhau trộm cắp chiếc xe đạp. Thấy không có ai trông coi, H4 đi đến đạp xe ra ngoài cổng, N đi xe máy điện của N còn Đ đi xe đạp của Đ đi theo. 03 người đi đến cổng trường Tiểu học T3 thì Đ và H4 đổi xe cho nhau. Đ đi chiếc xe đạp vừa trộm cắp đến cửa hàng mua bán xe đạp của ông Nguyễn Văn C để bán. Khi đến gần cửa quán, Đ giao xe đạp cho N vào bán còn H4 và Đ đứng đợi ở ngoài. N bán chiếc xe đạp này cho ông C được 1.000.000 đồng. N chia cho Đ 100.000 đồng nhưng Đ không lấy. N chia cho H4 500.000 đồng và giữ lại 500.000 đồng sau đó cùng H4 chi tiêu và chơi điện tử. Kết luận định giá tài sản số 47/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “Chiếc xe đạp thể thao màu xám, nhãn hiệu SPX, mua mới tháng 11/2023, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 07/01/2024 là 2.200.000 đồng.”
Vụ thứ hai:
Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2024, N cùng H4 và Đ chơi điện tử ở quán cạnh Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp tỉnh K1 thì nảy sinh ý định đi đến khu nhà ở của người Trung Quốc để trộm cắp xe đạp. N điều khiển xe máy điện chở H4 và Đ đi đến gian nhà số C Lô CC3 thì nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp thể thao màu xanh da trời, nhãn hiệu Specialized dựng ở chân cầu thang không có khóa. Chiếc xe này là của anh JIN DEYONG, sinh năm 1982 quốc tịch Trung Quốc. N điều khiển xe máy điện đi đến gian nhà 2.1. Sau đó 03 người xuống xe đi vào giả vờ chơi bi-a; N đi vào dắt chiếc xe đạp ra cửa rồi đưa cho Đ để Đ đạp xe đi ra ngoài. N đi xe máy điện chở H4 đi theo sau. 03 người đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của ông Trần Anh D1 bán chiếc xe đạp được 250.000 đồng. N chia cho H4 100.000 đồng, chia cho Đ 50.000 đồng, còn giữ lại 100.000 đồng đã sử dụng chơi điện tử hết. Kết luận định giá tài sản số 47/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “Chiếc xe đạp thể thao mầu xanh da trời, nhãn hiệu Specialized, mua mới tháng 12/2022, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 11/01/2024 là 1.500.000 đồng.”
Vụ thứ ba:
Khoảng 14 giờ ngày 12/01/2024, N đi xe máy điện chở H4 đến nhà Nguyễn Huy H2 để đón đi học. Trên đường đi, N rủ mọi người đi trộm cắp xe đạp thì H4 và H2 đồng ý. N đi xe máy điện đến cổng khu nhà người Trung Quốc ở thì đỗ xe đợi ở bên ngoài. H2 và H4 đi bộ đến gian số 01 ở cạnh gian nhà số B thì nhìn thấy 01 chiếc xe đạp mini nhãn hiệu Asama, màu sơn vàng, giỏ bằng nhựa mầu nâu không khóa, dựng ở gần cửa. Chiếc xe này là của anh GUO ZI HANG quốc tịch Trung Quốc để ở đó. H2 đứng ở ngoài cửa cảnh giới còn H4 đi vào dắt chiếc xe đạp đem ra ngoài đưa cho H2. H2 ngồi lên xe đạp đi ra ngoài cổng, H4 đi ra ngồi lên xe máy điện của N, 03 người cùng nhau đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị V để bán. N và H4 đứng ở bên ngoài, H2 đi vào bán chiếc xe đạp cho bà V với giá 200.000 đồng. H2 chia cho H4 100.000 đồng, giữ lại 100.000 đồng. Do thấy tiền bán xe được ít nên 03 người rủ nhau quay lại tiếp tục trộm cắp xe đạp. N điều khiển xe máy điện chở H2 và H4 quay lại Lô CC3. N và H2 đi bộ đến gian nhà số D thì nhìn thấy có 01 chiếc xe đạp thể thao màu trắng, nhãn hiệu Vivente xe đang bị khóa bánh sau bằng 01 chiếc khóa dây màu đen, loại khóa bằng mật khẩu, vỏ làm bằng nhựa. Chiếc xe này là của anh GAO TENGFEI, quốc tịch Trung Quốc để tại đó. N dùng tay bê phần đầu xe, H2 dùng tay bê phần đuôi xe cùng khiêng chiếc xe đi ra chỗ H4 đang đợi. N điều khiển xe máy điện chở H4 ngồi giữa, H2 ngồi sau giữ chiếc xe đạp đi về nhà N. Tại đây, N lấy 01 chiếc cưa tay bằng kim loại để H4 và Hoàng cưa chiếc khóa dây nhưng không đứt. N lấy con dao và chặt đứt chiếc khóa dây. Sau đó, N đi xe máy điện chở H2 còn H4 đi chiếc xe đạp vừa trộm cắp đến cửa hàng thu mua sắt vụn của bà V để bán. H4 bán chiếc xe đạp cho bà V được 250.000 đồng rồi đi ra ngoài đưa tiền cho N. N chia cho H2 100.000 đồng, chia cho H4 50.000 đồng, còn giữ lại 100.000 đồng. 03 người đã sử dụng chơi điện tử hết. Kết luận định giá tài sản số 47/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “Chiếc xe đạp mini mầu vàng, nhãn hiệu Asama, mua mới tháng 12/2023, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 12/01/2024 là 500.000 đồng. Chiếc xe đạp thể thao mầu trắng nhãn hiệu Vivente, mua mới tháng 7/2022, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 12/01/2024 là 1.500.000 đồng. Kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐG ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc khóa dây xe đạp, mầu đen, loại khóa bằng mật khẩu, vỏ làm bằng nhựa, lõi đồng mầu vàng, mua mới tháng 7/2022, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 12/01/2024 là 50.000 đồng”
Vụ thứ tư:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, N và H4 đang chơi điện tử thì rủ nhau đi trộm cắp xe đạp. N đi xe máy điện chở H4 đến cổng khu nhà người Trung Quốc thì nhìn thấy một chiếc xe đạp thể thao mầu đen, nhãn hiệu R đang dựng ở trước cửa gian nhà số B, xe không khóa. Chiếc xe này là của anh TANG WEIFENG, quốc tịch Trung Quốc. H4 đi bộ vào dắt chiếc xe đạp đi ra cổng rồi đạp đi, N điều khiển xe máy điện đi theo. Sau đó, H4 liên lạc qua facebook với Nguyễn Hoàng D2 để gạ bán xe thì anh D2 bảo đem xe đến để xem. H4 đạp xe đi đến nhà anh D2 còn N đi xe máy điện theo sau. Anh D2 hỏi về nguồn gốc xe thì H4 nói là xe của H4, anh D2 đồng ý mua và trả 350.000 đồng. H4 chia cho N 120.000 đồng, 02 người đã chi tiêu và chơi điện tử hết. Kết luận định giá tài sản số 47/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “Chiếc xe đạp thể thao mầu đen, nhãn hiệu Risinglin SPX, mua mới tháng 11/2023, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 19/01/2024 là 2.500.000 đồng”
Ngày 22/01/2024, chị Từ Thị T2 là người đại diện theo uỷ quyền của những người bị hại có đơn trình báo về việc bị trộm cắp 05 chiếc xe đạp có đặc điểm nêu trên. Cùng ngày, chị Nguyễn Thị P là mẹ của Dương Trung N đã chuộc lại 04 chiếc xe đạp (đã bán cho Trần Anh D1, bà Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Hoàng D2) và giao nộp cho Cơ quan điều tra. Đồng thời, chị P giao nộp chiếc xe máy điện nhãn hiệu Nijia Prince, màu sơn đen, chưa đăng ký biển số là phương tiện mà N sử dụng để đi trộm cắp tài sản.
Cơ quan điều tra đã cho Dương Trung N, Nguyễn Huy H2, Thân Trung H4 và chị Từ Thị T2 nhận dạng các xe vật chứng đã thu giữ. Kết quả, những người nêu trên đều xác định 04 chiếc xe mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là 04 chiếc xe bị trộm cắp. Cơ quan điều tra đã cho Dương Trung N và Nguyễn Huy H2 xác định hiện trường, kết quả: N và H2 đã xác định đúng vị trí để tài sản trước khi trộm cắp như đã khai
Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Trung N, Nguyễn Huy H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo N trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Trong thời gian từ ngày 07/01/2024 đến ngày 19/01/2024 bị cáo đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp 05 chiếc xe đạp của các công nhân người Trung Quốc, tổng giá trị 05 chiếc xe được định giá 8.250.000 đồng, bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Đại diện hợp pháp của bị cáo N trình bày: Chị nhất trí với lời trình bày của bị cáo N và không bổ sung thêm gì.
- - Bị cáo H2 trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Ngày 12/01/2024 bị cáo đã cùng bị cáo N trộm cắp 02 chiếc xe đạp của các công nhân người Trung Quốc, 02 chiếc xe và 01 khoá dây của xe được định giá 2.050.000 đồng, bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Đại diện hợp pháp của bị cáo H2 trình bày: Anh chị nhất trí với lời trình bày của bị cáo H2 và không bổ sung thêm gì.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị P trình bày: Vợ chồng chị cho bị cáo N mượn chiếc xe máy điện nhãn hiệu Nijia Prince để đi học, anh chị không biết bị cáo N sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Anh chị đã được Cơ quan Điều tra trả lại xe nên không có ý kiến gì.
* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, các bị cáo, người đại đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt:
- + Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Trung N từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H2 từ 08 tháng đến 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Không áp dụng hình phạt bổ sung và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo (Dương Trung N và Nguyễn Huy H2) mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
* Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai tranh luận gì.
- * Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Trọng N1 trình bày lời bào chữa cho bị cáo Dương Trung N: Ông cơ bản nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo N thực hiện hành vi trộm cắp khi chưa đủ 18 tuổi nên khả năng hiểu biết và nhận thức về hành vi phạm tội còn hạn chế. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xử phạt bị cáo N mức hình phạt từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo. Các nội dung khác đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo N ông hoàn toàn nhất trí.
- * Luật sư Hoàng Đức T1 trình bày lời bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H2: Ông cơ bản nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo H2 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi và chỉ 01 lần cùng bị cáo N thực hành vi trộm cắp tài sản có tổng giá trị 2.050.000 đồng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xử phạt bị cáo H2 06 tháng cải tạo không giam giữ. Các nội dung khác đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo H2 ông hoàn toàn nhất trí.
- * Chủ toạ phiên toà công bố văn bản bào chữa cho bị cáo Dương Trung N của Luật sư Đào Thị P1 (vắng mặt tại phiên toà): Bà P1 đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 3 và khoản 1, khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Dương Trung N và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục theo quy định tại Mục 2 Chương XII của Bộ luật Hình sự.
- * Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung thêm gì.
- * Kiểm sát viên tranh luận, đối đáp: Về việc ông Hoàng Trọng N1 đề nghị xử phạt bị cáo Dương Trung N từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, ông Hoàng Đức T1 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H2 06 tháng cải tạo không giam giữ: Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo và căn cứ các quy định được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để đề nghị mức hình phạt từ 08 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo N và đề nghị mức hình phạt từ 08 đến 10 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H2 là phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định. Luật sư Đào Thị P1 đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nghĩa là không có căn cứ. Do vậy Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị đối với từng bị cáo.
- * Không ai tranh luận, đối đáp thêm gì.
- * Các bị cáo nói lời sau cùng:
- - Bị cáo N: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được cải tạo tại địa phương.
- - Bị cáo H2: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.
- [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại; Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và Trường Cao đẳng K1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Dương Trung H1 là người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Trung N vắng mặt, đã uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị P tham gia tố tụng; bà Đào Thị P1 là người bào chữa cho bị cáo Dương Trung N vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt và gửi văn bản bào chữa cho Hội đồng xét xử, bị cáo N và đại diện hợp pháp của bị cáo N (chị Nguyễn Thị P) đồng ý xét xử vụ án vắng mặt luật sư bào chữa Đào Thị P1. Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (cháu Thân Trung H4 - người đại diện hợp pháp là chị Phạm Thu H5, ông Thân Quốc K, cháu Hoàng Minh Đ – người đại diện hợp pháp là chị Trương Thị D và anh Hoàng Đông H6, ông Nguyễn Văn C, ông Trần Anh D1, ông Đoàn Thanh M, anh Nguyễn Hoàng D2, anh Nguyễn Hoàng N2, bà Nguyễn Thị V) nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai. Xét thấy, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 291, khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
- [3] Về hành vi của bị cáo Dương Trung N và Nguyễn Huy H2: Căn cứ đơn tố giác tội phạm ghi ngày 22/01/2024 của đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản nhận dạng, biên bản xác định hiện trường ngày 12/6/2024, Kết luận Định giá tài sản số 47/KL-HĐ ngày 15/3/2024 và Kết luận Định giá tài sản số 113/KL-HĐ ngày 30/5/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 07/01/2024 đến ngày 19/01/2024, lợi dụng sơ hở của các bị hại, bị cáo N đã 04 lần có hành vi lén lút trộm cắp 05 chiếc xe đạp của các công nhân người Trung Quốc, trong đó bị cáo H2 có 01 lần cùng bị cáo N thực hiện hành vi, cụ thể: Ngày 07/01/2024, bị cáo N trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao mầu xám, nhãn hiệu SPX trị giá 2.200.000 đồng của anh LUO WENHUI; ngày 11/01/2024, bị cáo N trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao mầu xanh da trời, nhãn hiệu Specialized trị giá 1.500.000 đồng của anh JIN DEYOUNG; ngày 12/01/2024, bị cáo N và H2 trộm cắp 01 chiếc xe đạp mini màu vàng nhãn hiệu Asama trị giá 500.000 đồng của anh GOU ZI HANG và 01 chiếc xe đạp thể thao mầu trắng nhãn hiệu Vivente trị giá 1.500.000 đồng, xe có khoá dây trị giá 50.000 đồng của anh GOU TENGFEI, tổng trị giá tài sản trộm cắp là 2.050.000 đồng; ngày 19/01/2024, N trộm cắp 01 chiếc xe đạp thể thao mầu đen nhãn hiệu Risinglin SPX trị giá 2.500.000 đồng của anh TANG WEIFENG. Tổng trị giá tài sản bị cáo N trộm cắp 04 vụ là 8.250.000 đồng, bị cáo H2 thực hiện trộm cắp 01 vụ gồm 02 chiếc xe đạp tổng trị giá 2.050.000 đồng. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi trộm cắp của bị cáo N được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về thời gian nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản của 04 vụ là 8.250.000 đồng.
- [4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân các bị cáo đã lén lút trộm cắp xe đạp của bị hại rồi đem đi bán lấy tiền. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [5.1] Đối với bị cáo N: Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bà nội bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [5.2] Đối với bị cáo H2: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ông ngoại bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương chiến công, Huy chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- [6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- [6.1] Trong khoảng thời gian liên tục và kế tiếp nhau từ ngày 07/01/2024 đến ngày 19/01/2024 bị cáo N đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- [6.2] Bị cáo H2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- [7] Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Trước lần thực hiện hành vi phạm tội này, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng bị Toà án xét xử và chưa từng bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
- [8] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trước khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ. Bị cáo N đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, trong đó có 01 vụ cùng bị cáo H2 thực hiện hành vi. Do vậy, Hội đồng xét xử cần quyết định mức hình phạt tương xứng với vai trò của từng bị cáo.
- [9] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
- [9.1] Trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chưa từng bị xét xử, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam để cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo N theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và cải tạo không giam giữ đối với bị cáo H2 theo Điều 36, Điều 100 Bộ luật Hình sự để các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe các bị cáo.
- [9.2] Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp người phạm tội “từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các quy định tại Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N; Điều 90, Điều 91, Điều 100 đối với bị cáo H2 khi quyết định hình phạt.
- [9.3] Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, do bị cáo H2 là người dưới 18 tuổi nên căn cứ khoản 2 Điều 100 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không khấu trừ thu nhập của bị cáo H2.
- [9.4] Xét đề nghị của ông Hoàng Trọng N1 đề nghị xử phạt bị cáo Dương Trung N từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp nên cần chấp nhận; đề nghị của ông Hoàng Đức T1 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H2 06 tháng cải tạo không giam giữ và đề nghị của bà Đào Thị P1 đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nghĩa là không phù hợp nên không chấp nhận.
- [10] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là người dưới 18 tuổi nên căn cứ khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- [11] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã được nhận lại 04 chiếc xe đạp bị trộm cắp và được chị Nguyễn Thị P là mẹ bị cáo N bồi thường số tiền 4.500.000 đồng. Đến nay các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo N không có yêu cầu gì khác đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- [12] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- [13] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
- [14] Các vấn đề khác có liên quan:
- [14.1] Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu Nijia Prince là tài sản của vợ chồng anh Dương Trung H1 và chị Nguyễn Thị P (bố mẹ của bị cáo N). Anh H1, chị P cho bị cáo N mượn xe để đi học, không biết bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại anh H1 chiếc xe máy điện trên là đúng quy định pháp luật.
- [14.2] Đối với Thân Trung H4 và Hoàng Minh Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
- [14.3] Đối với ông Nguyễn Văn C, ông Trần Anh D1, bà Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Hoàng D2 mua xe đạp do các bị cáo trộm cắp nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- 1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Trung N 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/8/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- 1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H2 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- 1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Trung N 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/8/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- 2. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo (Dương Trung N, Nguyễn Huy H2) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 3. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- [3.1] Các bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- [3.2] Người bào chữa cho bị cáo; bị hại (hoặc đại diện hợp pháp của bị hại); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
