|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 7 - 2024
V/v "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Quang Thái.
- 2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Phạm Hoàng V, sinh năm 1999 (có mặt).
Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 06/3/2024, biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Hoàng V trình bày: sau thời gian tìm hiểu, ông Phạm Hoàng V (sau đây gọi là ông V) với bà Nguyễn Thị N (sau đây gọi là bà N) tiến đến hôn nhân vào năm 2020, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 01/12/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 01 con chung tên Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/10/2021. Tuy nhiên, đến tháng 4 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do không phù hợp tánh tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên ông V yêu cầu được ly hôn với bà N; về con chung, do cháu Phạm Hoàng K còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định với bà N nên ông V đồng ý cho bà N tiếp tục nuôi con; ông V không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không có.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 71; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 8, 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên: chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Hoàng V.
- + Về hôn nhân: ông Phạm Hoàng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- + Về con chung: giao con chung Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/10/2021 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng; ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- + Về án phí: ông V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, ông V yêu cầu ly hôn với bà N và yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vì vậy, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà N có nơi cư trú tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà N đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập bà N đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo thủ tục chung.
[3] Về quan hệ hôn nhân: ông V và bà N tiến đến hôn nhân từ năm 2020, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã V, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, ngày 01/12/2021. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của ông V và bà N phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của ông V thấy rằng, ông V và bà N sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến tháng 4 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, từ đó quan hệ hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông V và bà N đã sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, ông V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà N, vì cho rằng giữa 02 người không còn tình cảm vợ chồng.
[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho bà N thông báo hòa giải, nhằm tạo điều kiện cho bà N và ông V hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà N đều vắng mặt, không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông V và bà N mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V.
[4] Về quan hệ con chung: ông V và bà N có 01 con chung tên Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/10/2021. Ông V đồng ý cho bà N tiếp tục nuôi con; ông V không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu K còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ; hiện tại cháu K cũng đang sống chung với bà N. Ngoài ra, ông V vẫn đồng ý cho bà N tiếp tục nuôi con. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần của cháu K, căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông V; giao cháu K cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà N không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
[5] Về tài sản chung: không có nên không xem xét.
[6] Về nợ chung: ông V xác định không có nợ chung.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: ông V yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Hoàng V.
- Về hôn nhân: ông Phạm Hoàng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: ông V và bà N có 01 con chung tên Phạm Hoàng K, sinh ngày 06/10/2021.
Giao cháu Phạm Hoàng K cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu K đang sống chung với bà N). Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung: không có.
- Về nợ chung: ghi nhận ông V xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông Phạm Hoàng V và bà Nguyễn Thị N vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Phạm Hoàng V phải chịu 3300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0013763 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (ông V đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hân Em |
Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông V yêu cầu được ly hôn với bà N; về con chung, do cháu Phạm Hoàng K còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi và đang sống ổn định với bà N nên ông V đồng ý cho bà N tiếp tục nuôi con; ông V không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không có.
