Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIỂM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2023/HSST

Ngày: 21/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hòa

- Ông Đoàn Hồng Sơn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

- Bà Mai Thùy Linh - Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Kiều Văn C, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1989 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội; hiện ở tại: số B Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: (Lao động tự do); con ông: Kiều Văn S và bà: Khuất Thị T; có vợ Đinh Hoài T1.

D bản, chỉ bản số 136, lập ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.

* Nhân thân:

  • - Tiền án, tiền sự: (Không).
  • Tạm giữ: 19/3/2023; Tạm giam: 24/3/2023.
  • Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trịnh Đức T2 - Sinh năm: 2000; hộ khẩu thường trú: thôn P, xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, tổ công tác Công an phường H trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Kiều Văn C và Trịnh Đức T2 (Sinh năm: 2000; HKTT: P, Q, Bắc Ninh) đang đứng tại hành lang nhà C2 bệnh viện V (số A - A P, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, C tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi giấy bạc bên trong có 13 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng từ trong túi quần phía sau bên trái và khai nhận là ma túy “đá” Chính đang mang đi bán cho T2 để kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa Kiều Văn C, Trịnh Đức T2 cùng tang vật thu giữ về trụ sở Công an phường H giải quyết.

Thu giữ của Kiều Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen (đã cũ, đã qua sử dụng) kèm sim số 0868556233; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng) kèm sim số 0979551270; 0921262642. Thu giữ của Trịnh Đức T2: 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ đen (đã cũ, đã qua sử dụng) kèm sim số 0916607154 (BL 30; 73)

Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động Samsung màu vàng thu giữ của Kiều Văn C phát hiện nhiều tin nhắn có nội dung trao đổi mua bán ma tuý. (BL 26; 99 - 100)

Tiến hành khám xét chỗ ở của Kiều Văn C tại số B Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến chất ma tuý. (BL 42 – 44)

Tại bản Kết luận giám định số 1754/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 13 túi ni lông đều là ma tuý loại Methamphetamine, tổng khối lượng 5,889 gam (BL 36)

Tại Cơ quan điều tra, Kiều Văn C khai nhận: Khoảng đầu tháng 3/2023, qua mạng xã hội G, C (sử dụng nickname “Sét kèo hfhn”) quen biết 01 nam thanh niên sử dụng nickname “MinhMinh” (sau này biết tên là Trịnh Đức T2, sinh năm: 2000; HKTT: Phù Lương, Q, Bắc Ninh). Qua nói chuyện, C biết T2 có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên C đã thoả thuận sẽ bán 5 gam ma tuý “đá” cho T2 với giá 8.000.000 đồng và hẹn giao dịch tại Bệnh viện V. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, C đi xe ôm từ nhà đến phố H gặp 01 người đàn ông không quen biết mua 5 gam ma tuý “đá” (để trong 13 núi ni lông) với giá 4.800.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, C cất giấu vào túi quần phía sau bên trái và đi đến bệnh viện V để giao ma tuý cho T2. Khi C và T2 gặp nhau tại hành lang nhà C2 Bệnh viện V, chưa kịp giao dịch mua bán ma tuý thì bị tổ công tác Công an phường H kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán ma tuý thành công, C được hưởng lời 3.200.000 đồng. (BL 58 - 71)

Trịnh Đức T2 khai phù hợp với lời khai của Kiều Văn C về việc C thoả thuận bán 05 gam ma tuý “đá” cho T2 với giá 8.000.000 đồng. Khi gặp nhau, cả hai chưa kịp trao đổi mua bán ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. (BL 74 - 82). Kết quả xét nghiệm Trịnh Đức T2 âm tính với chất ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với Trịnh Đức T2.

Về đối tượng nam giới bán ma tuý cho Kiều Văn C do C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại, việc giao nhận ma tuý là trực tiếp nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý.

Bản cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Kiều Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Kiều Văn C đều khai khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, Kiều Văn C đã có hành vi cất giấu 5,889 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm bán trái phép thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại hàng lang nhà C2 Bệnh viện V - A P, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Kiều Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù; Tịch thu tiêu hủy ma túy và 04 sim điện thoại; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen, một điện thoại Sam sung màu vàng của Kiều Văn C và điện thoại Nokia màu đỏ đen của Trịnh Đức T2 đều sử dụng liên lạc mua bán ma túy.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét vì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn và cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi: Ngày 17/3/2023 Trịnh Đức T2 có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã sử dụng ma túy nên đã sử dụng tài khoản “MinhMinh” nhắn tin qua mạng xã hội G1 cho tài khoản “Sét kèo H hn” của Kiều Văn C để hỏi mua ma túy “Đá”. Chính nói chưa có khi nào có sẽ liên lạc với T2. Khoảng 7 giờ ngày 19/3/2023 C đến khu vực phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội mua một gói ma túy “Đá” của một người đàn ông (không rõ căn cước) bên trong có 13 túi ni lông chứa ma túy với giá 4.800.000 đồng và cất vào túi quần bên trái và đi về nhà. Đến 8 giờ cùng ngày C nhắn tin cho T2 để bán lại số ma túy trên với giá 8.000.000 đồng. Trịnh Đức T2 đồng ý mua và hẹn giao hàng tại Bệnh viện V.

Khoảng 9 giờ ngày 19/3/2023, Kiều Văn C và Trịnh Đức T2 đang trao đổi tại hành lang nhà C2 Bệnh viện V thì bị Công an kiểm tra, C tự nguyện lấy từ túi quần sau bên trái một gói giấy bạc bên trong có 13 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng mang đến để bán cho T2. Công an đã thu giữ toàn bộ tang vật theo kết luận giám định là 5,889 gam ma túy loại Methamphetamine.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của Kiều Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn; bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử căn cứ tính chất hành vi phạm tội; nhân thân bị cáo; căn cứ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do vậy, cần thiết xét xử bị cáo và áp dụng hình phạt tù.

Ngoài hình phạt chính, do bị cáo không việc làm nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu, tiêu hủy ma túy và bốn sim điện thoại di động.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước một điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen, một điện thoại Sam sung màu vàng của Kiều Văn C và một điện thoại Nokia màu đỏ đen của Trịnh Đức T2 đều sử dụng liên lạc mua bán ma túy.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Kiều Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Điều luật và hình phạt:

    Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Xử phạt: Kiều Văn Chính 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/3/2023.

  3. Biện pháp tư pháp:

    Áp dụng:

    • - Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

    a. Tịch thu, tiêu hủy:

    • + Một phong bì được dán kín, trên các mép đều có chữ ký của đương sự Kiều Văn C, giám định viên Nguyễn Văn H1, cán bộ Đinh Thanh T3, người chứng kiến Tô Văn K và hình dấu đỏ của Công an Phường. Bên trong có một túi giấy bạc kích thước 6x16cm chứa:
      • - Sáu túi ni lông màu trắng kẻ viền màu xanh kích thước 1,5x2,5cm chứa tinh thể màu trắng.
      • - Sáu túi ni lông màu trắng kẻ viền màu xanh quấn băng dính màu đen kích thước 1,5x2,5cm chứa tinh thể màu trắng.
      • - Một túi ni lông màu trắng viền màu xanh kích thước 3,5x7cm bên trong dính tinh thể màu trắng.

      Tinh thể màu trắng trong mười ba túi ni lông là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 5,889 gam, PC09 Công an Thành phố H trích mẫu 0,430 gam còn lại 5,449 gam

      (Theo kết luận giám định số 1754/KLGĐ-PC09 ngày 27/03/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 19/03/2023).

    • - Bốn sim điện thoại đã cũ.

    b. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước:

    • - Một điện thoại di động màu đen (Theo biên bản tạm giữ Công an phường H – Công an quận H ngày 19/03/2023 ghi nhãn hiệu Samsung, số Imei: 356938141236506, máy cũ đã qua sử dụng) đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy, không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số Imei bên trong.
    • - Một điện thoại di động màu vàng (Theo biên bản tạm giữ Công an phường H – Công an quận H ngày 19/03/2023 ghi nhãn hiệu Samsung, số Imei: 358592103488262, máy cũ đã qua sử dụng) đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy, không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số Imei bên trong.
    • - Một điện thoại di dộng màu đỏ đen (theo biên bản tạm giữ Công an phường H – Công an quận H ngày 19/03/2023 ghi nhãn hiệu Nokia không ghi số Imei, máy cũ đã qua sử dụng) đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy, không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số Imei bên trong.

    (Tang vật hiện giữ tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm - theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 18/8/2023).

  4. Án phí:

    Áp dụng: Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

    Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Áp dụng: Các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự

    Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

* Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THA DS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2023/HSST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 172/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiều Văn C - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger