Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2025/HS-PT

Ngày 19 tháng 11 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh, ông Cao Minh Lễ.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 262/2025/TLPT- HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H (Phi), do có kháng cáo của các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Hùng C, sinh ngày 03/7/2006, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp A, xã L, tỉnh An Giang (số căn cước công dân 089206011914); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hùng V và bà Phạm Thị H1; vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01- Công an tỉnh A (có mặt).

2. Bùi Lê Thanh H (Còn có tên gọi khác là P), sinh ngày 27/12/2005, tại thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: ấp A, xã L, tỉnh An Giang (số căn cước công dân 089205016017); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Tấn T (đã chết) và bà Bùi Thị Tuyết N; vợ, con: chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 17/02/2025, bị Công an xã A (nay là xã L), tỉnh An Giang xử phạt 1.500.000đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01- Công an tỉnh A (có mặt).

Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/4/2025, Nguyễn Tấn H2, sinh ngày 07/12/2009, ngụ ấp A, xã H (nay là xã H, tỉnh An Giang) điều khiển xe mô tô biển số 65-850TA đến nhà Bùi Lê Thanh H ở ấp A, xã A (nay là xã L, tỉnh An Giang) chơi, khi này có Trần Hùng C. Sau đó, H2 điều khiển xe mô tô chở C, H đến quán cà phê ở ấp L, xã L uống cà phê. Do không có tiên tiêu xài nên C rủ H, H2 tìm tài sản lấy trộm thì H và H2 đồng ý. H2 điều khiển xe mô tô biển số 65-850TA chở C, H đến khu vực ấp A, xã A, thấy xe mô tô biển số 67H1-130.51, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ - đen - bạc của Huỳnh Văn C1 đang dựng ở lề đường, trên xe có gắn sẵn chia khóa, không người trông giữ. C và H2 cảnh giới cho H đi đến mở khóa, lấy trộm xe mô tô biển số 67H1-130.51 chạy đi được một đoạn thì người dân phát hiện, nên H2 điều khiển xe mô tô biển số 65-850TA chở C về nhà H2, riêng H tiếp tục điều khiển xe trộm được về hướng xã N, bán xe cho Nguyễn Văn D được 750.000 đồng, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, sau đó D bán xe lại cho Nguyễn Kiếm B với giá 4.800.000 đồng. Ngày 18/4/2025, C, H, H2 đến Công an xã A đầu thú, do H2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cho gia đình bảo lĩnh.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô 65-850TA, 01 xe mô tô 67H1-130.51 và giấy đăng ký xe, đã trả cho Nguyễn Văn C2, Huỳnh Văn C1, 03 bọc nilon trong suốt hàn kín một đầu, có rảnh khóa màu trắng viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể dạng thảo mộc khô (nghi là ma túy) và 200.000 đồng của H giao nộp.

Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG.TTHS ngày 23/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C: 01 xe mô tô biển số 67H1-130.51 (đã qua sử dụng) có giá trị 6.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 575/KL-KTHS ngày 07/5/2025 của Phòng K - Công an tỉnh A: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định tìm thấy thành phần chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA, có tổng khối lượng 4,9758 gam, là chất ma túy được quy định trong Danh mục II, số thứ tự 241 của Nghị định 57/2022-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Hùng C và bị cáo Bùi Lê Thanh H (P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Hùng C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2025). Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2025). Ngoài ra còn xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/9/2025, bị cáo Bùi Lê Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 16/9/2025, bị cáo Trần Hùng C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt với lý do mức hình phạt nặng so hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hùng C, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của Bùi Lê Thanh H, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm; Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt các bị cáo Trần Hùng C 09 (Chín) tháng tù; Bùi Lê Thanh H 09 (chín) tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận như sau:

Do không có tiên tiêu xài nên C rủ H, H2 (sinh năm 2009) tìm tài sản lấy trộm thì H và H2 đồng ý. H2 điều khiển xe mô tô biển số 65-850TA chở C, H đến khu vực ấp A, xã A, thấy xe mô tô biển số 67H1-130.51, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ - đen - bạc của Huỳnh Văn C1 đang dựng ở lề đường, trên xe có gắn sẵn chìa khóa, không người trông giữ. C và H2 cảnh giới cho H đi đến mở khóa, lấy trộm xe mô tô biển số 67H1-130.51 chạy đi được một đoạn thì người dân phát hiện, nên H2 điều khiển xe mô tô biển số 65-850TA chở C về nhà H2, riêng H tiếp tục điều khiển xe lấy trộm được về hướng xã N, bán xe cho Nguyễn Văn D được 750.000đồng, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.

Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của bị hại ông Huỳnh Văn C1 mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Tài sản xe mô tô của bị hại do các bị cáo chiếm đoạt, C là người khởi xướng, rủ rê; bị cáo H là người thực hiện và sau khi lấy được xe mô tô đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Bị cáo H có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Trần Hùng C, Bùi Lê Thanh H có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú; theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo đã gây ra.

Đối với bị cáo Trần Hùng C bị xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Cấp sơ thẩm nhận định thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì Nguyễn Tấn H2 là người chưa đủ 16 tuổi, nên C phải chịu tình tiết tăng nặng

trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hành vi của H2 không cấu thành tội phạm do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp. Mặt khác, theo điểm b khoản 14 Điều 4 của Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực từ ngày 15/11/2025 thì “người phạm tội biết rõ người bị xúi giục là người dưới 18 tuổi”. Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo C khai khi rủ H2 không biết H2 dưới 18 tuổi. Do đó, không áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

[5] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đại diện Viện Kiểm sát; chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Hùng C; không chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Lê Thanh H.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo C được chấp nhận nêm không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Hùng C; Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Bùi Lê Thanh H; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2025/ HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Trần Hùng C và Bùi Lê Thanh H (P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Hùng C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2025).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Lê Thanh H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/4/2025).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Hùng C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Bùi Lê Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa phúc thẩm TANDTC, TP Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân khu vực;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực;
  • - Thi hành án dân sự khu vực;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo có kháng cáo và không có kháng cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2025/HS-PT ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 172/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger