Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HS-ST

Ngày: 06/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên

2. Bà Nguyễn Thị Loan

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2025/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Bá H, Sinh năm 1990; Giới tính: Nam; CCCD: [...]; Nơi TT và chỗ ở: Phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Vợ: Đoàn Thị H2, sinh năm 1992; Có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị tạm giữ tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)

Những người có QLVNVLQ:

  1. Anh Nguyễn Đăng V, sinh năm 2001

    Trú tại: Phố 6, phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  2. Anh Nguyễn Khắc S, sinh năm 1990

    Trú tại: Phố 2, phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa

  3. Anh Trần Công D, sinh năm 1997

    Trú tại: Phố 2, phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  4. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996

    Trú tại: Phố 2, phường Quảng Phú, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  5. Anh Lâm Hữu L1, sinh năm 1989

    Trú tại: Phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày 26/11/2024, Nguyễn Bá H đã cho 05 người trên địa bàn thành phố T vay tiền với tổng số tiền cho vay là 65.000.000đ; Hình thức vay tín chấp, thu lãi theo tháng; Lãi suất vay từ 2.890 đồng đến 3.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày, tương đương với lãi suất 104% đến 108%/năm, gấp 5,2 đến 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, thu lời bất chính số tiền 36.057.534 đồng. Cụ thể H đã cho vay như sau:

  1. Ngày 10/8/2023 H cho anh Nguyễn Đăng V, sinh năm 2001 (trú tại phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, số tiền lãi mỗi tháng H thu 900.000 đồng (tương đương lãi suất 107%/năm, gấp 5,4 lần lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự).

    Ngày 09/02/2024 anh V đã thanh toán hết tiền gốc và lãi cho H. Tổng số tiền lãi anh V đã trả cho H 06 tháng là 5.400.000 đồng. (Số tiền lãi được thu theo quy định của BLDS là 1.008.219đ, số tiền thu lời bất chính là 4.391.781₫).

  2. Ngày 28/6/2023, H cho anh Nguyễn Khắc S, sinh năm 1990 (trú tại phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng H thu 1.800.000 đồng tiền lãi (tương đương lãi suất 107%/năm, gấp 5,4 lần lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự)

    Đến ngày 27/12/2023 anh S đã trả toàn bộ tiền gốc và lãi cho H. Tổng số lãi anh S đã trả cho H 06 tháng là 10.800.000 đồng. (Số tiền lãi được thu theo quy định của BLDS là 2.005.479đ, số tiền thu lời bất chính là 8.794.521₫).

  3. Ngày 28/01/2024, H cho anh Trần Công D, sinh năm 1997 (trú tại phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) vay số tiền 5.000.000₫ với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng thu 450.000đ tiền lãi (tương đương 107%/năm, gấp 5,4 lần lãi suất tối đa theo quy định của BLDS)

    Anh D1 đã trả toàn bộ tiền vay gốc và lãi cho H. Anh Dũng vay 10 tháng, tổng số lãi anh D1 đã trả cho H là 4.500.000 đồng. (Số tiền lãi được thu theo quy định của BLDS là 832.877đ, số tiền thu lợi bất chính là 3.367.123₫).

  4. Ngày 13/5/2023 H cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1996 (trú tại phố B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 2.890 đồng/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng thu 1.300.000 đồng tiền lãi (tương đương 104%/năm, gấp 5,2 lần lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự).

    Đến ngày 12/5/2024 chị L đã trả toàn bộ số tiền vay gốc và tiền lãi cho H. Chị L vay 12 tháng, tổng số lãi đã trả là 15.600.000 đồng. (Số tiền lãi được thu theo quy định của BLDS là 3.000.000đ, số tiền thu lợi bất chính là 12.600.000₫).

  5. Ngày 15/9/2023, H cho anh Lâm Hữu L1, sinh năm 1989 (trú tại phố F, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa) vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, mỗi tháng thu 1.350.000đồng tiền lãi. (tương đương 108%/năm, gấp 5,4 lần lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật dân sự).

    Anh L1 trả lãi 6 tháng, đến ngày 14/3/2024 anh L1 xin dừng trả lãi, H đồng ý. Tổng số lãi đã thu của anh L1 06 tháng là 8.100.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định của Bộ luật dân sự 20%/năm là 1.495.890đ, số tiền thu lợi bất chính là 6.604.110đ. Tiền nợ gốc đến nay anh L1 vẫn chưa trả cho H.

Như vậy, tổng số tiền gốc Nguyễn Bá H đã cho 05 người vay là 65.000.000đ; Tiền gốc 04 người vay đã trả là 50.000.000đ; Tổng số tiền lãi 05 người vay đã trả cho H là 44.400.000₫ (Trong đó số tiền lãi tối đa được thu theo quy định tại Điều 468-BLDS (20%/năm) là 8.342.466đ; Số tiền vượt quá quy định của BLDS là 36.057.534 đồng)

Các khoản cho vay (nêu trên) H không yêu cầu thế chấp tài sản. Việc giao nhận tiền cho vay và thanh toán bằng tiền mặt.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bá H đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng: Ngày 26/11/2024, Nguyễn Bá H tự nguyện giao nộp 02 giấy vay tiền tên người vay là Lâm Hữu L1 và Nguyễn Thị N. Quá trình điều tra xác định H cho vay không tính lãi đối với khoản vay của bà Nguyễn Thị N, Cơ quan điều tra đã trả lại giấy vay tiền tên Nguyễn Thị N cho Nguyễn Bá H; Giấy vay tiền tên Lâm Hữu Luân lưu hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Đăng V, Nguyễn Khắc S, Trần Công D, Lâm Hữu L1, chị Nguyễn Thị L không yêu cầu gì về phần dân sự.

Tại Cáo trạng số 55/CTr-VKS ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Bá H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự tuyên bố Nguyễn Bá H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; Xử phạt Nguyễn Bá H số tiền từ 70.000.000đ đến 80.000.000đ để nộp Ngân sách Nhà Nước; Truy thu nộp NSNN số tiền 65.000.000₫ là công cụ phương tiện phạm tội (thu từ bị cáo 50.000.000đ; T1 từ anh L1 15.000.000₫); Truy thu nộp NSNN số tiền do phạm tội mà có là 8.342.466đ; Đối với số tiền thu lời bất chính 36.057.534₫, những người vay không yêu cầu giải quyết về dân sự do đó không xem xét; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày 25/11/2024, Nguyễn Bá H đã sử dụng số tiền 65.000.000₫ (Sáu mươi lăm triệu đồng) cho 05 người (gồm: anh Nguyễn Đăng V, Nguyễn Khắc S, Trần Công D, Lâm Hữu L1 và chị Nguyễn Thị L) vay dưới hình thức vay tín chấp, với mức lãi suất từ 2.890 đồng đến 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương với mức lãi từ 104%/năm đến 108%/năm; Gấp 5,2 đến 5,4 lần của mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; T1 lời bất chính số tiền 36.057.534 đồng.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Viện kiểm sát nhân dân TP. Thanh Hóa truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng; Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý tiền tệ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo; Đầu thú do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Nhân thân tốt. Vì vậy HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, và áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Vật chứng vụ án: 02 giấy vay tiền tên do bị cáo giao nộp quá trình điều tra đã xác định khoản vay của bà Nguyễn Thị N, bị cáo cho vay không tính lãi Cơ quan điều tra đã trả lại giấy vay tiền cho Nguyễn Bá H; Giấy vay tiền tên Lâm Hữu Luân lưu hồ sơ vụ án là đúng quy định tại Điều 106 - Bộ luật TTHS.

[5] Về biện pháp tư pháp: Số tiền gốc 65.000.000₫ bị cáo dùng để cho vay là công cụ phương tiện phạm tội; Số tiền lãi tối đa (20%) theo quy định tại Điều 468 BLDS bị cáo đã thu từ người vay 8.342.466 đồng là tiền do phạm tội mà có. Vì vậy truy thu hai khoản tiền này nộp Ngân sách Nhà nước. (Số tiền gốc 65.000.000₫ người vay Lâm Hữu L1 còn nợ bị cáo 15.000.000đ, vì vậy truy thu từ bị cáo 50.000.000đ, truy thu từ anh L1 15.000.000₫). Số tiền lãi vượt quá 20%/năm bị cáo đã thu 36.057.534 đồng là tiền thu lợi bất chính, tại cơ quan điều tra những người vay (anh V, anh S, anh D,chị L, anh L1) không yêu cầu gì về dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa những người vay không có mặt, số tiền vay không sử dụng vào mục đích bất hợp pháp do đó buộc bị cáo trả lại cho người vay theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Mục 1 phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TAND tối cao; Mục 3 công văn 233/TANDTC-PC ngày 01/10/2019 của TAND tối cao v/v “Trao đổi nghiệp vụ”

[6] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự
  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá H số tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Nguyễn Bá H số tiền 58.342.465đ (Năm mươi tám triệu ba trăm bốn hai ngàn bốn trăm sáu lăm đồng) để nộp ngân sách Nhà nước (Gồm: 50.000.000₫ bị cáo dùng để cho khách hàng vay và 8.342.465đ tiền lãi tối đa (20%) theo quy định tại Điều 468 BLDS)
  • Truy thu của anh Lâm Hữu L1 số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) là số tiền gốc còn nợ bị cáo H, để nộp ngân sách Nhà nước
  • Buộc bị cáo Nguyễn Bá H phải trả lại số tiền 36.057.534₫ thu lợi bất chính cho những người vay, cụ thể: Trả cho anh Nguyễn Đăng V số tiền 4.391.781đ (Bốn triệu ba trăm chín mốt ngàn bay trăn tám mốt đồng); Trả cho anh Nguyễn Khắc S số tiền 8.794.521đ (Tám triệu bảy trăm chín tư ngàn năm trăm hai mốt đồng); Trả cho anh Trần Công D số tiền 3.667.123₫ (Ba triệu sáu trăm sáu bảy ngàn một trăm hai ba đồng). Trả cho chị Nguyễn Thị L số tiền 12.600.000₫ (Mười hai triệu sáu trăm ngàn đồng). Trả cho anh Lâm Hữu L1 số tiền 6.604.110đ (Sáu triệu sáu trăm linh tư ngàn một trăm mười đồng).
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Bá H phải chịu 200.000đ án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Bá H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Đăng V, anh Nguyễn Khắc S, anh Trần Công D, chị Nguyễn Thị L, anh Lâm Hữu L1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Thanh Hóa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VP CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 116/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bá H (Cho vay lãi nặng trong GDDS) K2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger