Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-12-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Liễu

Bà Trần Thị Yến Nhi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 443/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Đào Thị Anh T, sinh năm 1995
  • Địa chỉ: Số D, Ấp P, xã P, huyện T, Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Anh Đoàn Văn L, sinh năm 1996
  • Địa chỉ: Số H, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai

(Chị T, anh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 06/9/2024, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn L tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại U, huyện T, tỉnh Đồng Nai, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/8/2016.
  • Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên thường hay xảy ra cãi vã, xung đột. Chị đã cố gắng chịu đựng và tìm mọi biện pháp để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng mẫu thuẫn vợ chồng vẫn không thay đổi. Từ tháng 9/2024 cho đến nay chị và anh L đã không còn sống chung với nhau. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh L, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Văn L.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên là Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng các con chung và yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Tại Bản tự khai ngày 09/11/2024 anh L trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND P, huyện T, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/8/2016. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm nên thường hay xảy ra cãi vã, xung đột. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2024 cho đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.
  • - Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên là Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng cho con hàng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung. Cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về đường lối giải quyết: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L.
  • + Về con chung: Đề nghị giao cháu chung là Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con hàng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 12/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.
  • + Về tài sản chung: Chị T và anh L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét;
  • + Về nợ chung: Chị T và anh L khai không có và nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Anh L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng cho con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Anh Đoàn Văn L có nơi cư trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.

[1.2]. Chị T có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và xác định chị T là nguyên đơn, anh L là bị đơn.

[1.3]. Chị T, anh L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh L tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2016 và được UBND xã U, huyện T, tỉnh Đồng Nai được cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/8/2016. Như vậy, hôn nhân giữa chị T, anh L được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự thể hiện: Chị T yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau. Từ tháng 9/2024 cho đến nay, vợ chồng chị T, anh L đã không còn sống chung, không quan tâm chăm sóc nhau. Anh L cũng thừa nhận trong quá trình vợ chồng sống chung với nhau có xảy ra mâu thuẫn và đã không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2024 cho đến nay.

Qua xác minh tại địa phương đã xác định được gia đình chị T và anh L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Chị T và anh L đã không còn sống chung với nhau từ tháng 9/2024 cho đến nay.

Như vậy, có căn cứ xác định chị T và anh L đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để chị T có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh L.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh L có 02 con chung là Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng cho con hàng tháng, mỗi tháng là mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung. Anh L cũng đồng ý giao các con chung cho chị T nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng cho con hàng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung.

Xét thấy, theo kết quả xác minh, thu thập chứng cứ và lời khai của các đương sự thể hiện: Từ khi chị T, anh L không sống chung với nhau, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung.

Từ các căn cứ trên và để đảm bảo cho các con chung phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tránh sự xáo trộn về đời sống tâm lý, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và cháu Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng cho con của anh L.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị T, anh L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[2.4]. Về nợ chung: Chị T, anh L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ. Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng cho con.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Anh T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Anh T được ly hôn với anh Đoàn Văn L.
    • - Về con chung: Giao con chung là Đoàn Phương Khả D, sinh ngày 28/8/2017 và Đoàn Khôi N, sinh ngày 29/10/2018 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng là 1.500.000 đồng/01 con chung, tổng cộng là 3.000.000 đồng/02 con chung. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 12/2024 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.
    • Anh L có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
    • - Về tài sản chung: Chị T, anh L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
    • - Về nợ chung: Chị T, anh L khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Đào Thị Anh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0013470 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí, chị T đã nộp đủ.
    • - Anh Đoàn Văn L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng cho con.
  3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA huyện Tân Phú;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Phú Sơn (để ghi vào sổ hộ tịch; số 48/2016 ngày 23/8/2016);
  • - Lưu HS – LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Đào Thị Anh T và Đoàn Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger