TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-ST Ngày: 21/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê văn Minh
Ông Nguyễn Minh Toàn
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
sinh ngày 01/01/1987, tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: Ấp B, xã V, huyện V, Bạc Liêu; Tạm trú: Ấp A, xã T, huyện B, Long An; nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T1; chị, em ruột: 02 người; Vợ: Bùi Thị Thanh T2; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 05/7/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người tham gia tố tụng khác:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Võ Thị B, sinh năm 1987
HKTT: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An
Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã M, huyện Đ, Long An
Người làm chứng:
Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1971
HKTT: Ấp C, xã T, huyện C, Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T làm nghề tài xế xe ô tô chở khách. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/7/2024, theo Nguyễn Văn T khai đang ngồi chờ đón khách gần cửa khẩu T4 thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An thì có một người đàn ông (không rõ nhân thân) đến thuê T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu đến vòng xoay khi qua cầu R, tỉnh Bến Tre với tiền công là 500.000 đồng và đỗ đầy xăng xe ô tô, T đồng ý. Sau đó, người đàn ông này dẫn T đi đến khu đất trống cặp bờ sông cách nơi T đỗ xe khoảng 10km, tại đây T thấy có nhiều túi nilong màu đen bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu. Lúc này T mở cốp xe ô tô biển số 62A-330.88 thì có khoảng 02-03 người đàn ông không rõ nhân thân mang những túi nilông màu đen trên xếp vào cốp xe, lên ghế xe bên phải và phía sau ghế của tài xế.
Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày T điều khiển xe ô tô 62A-330.88 lưu thông trên Quốc lộ A đoạn thuộc tổ D, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an tỉnh T kiểm tra, phát hiện trên xe ô tô 62A-330.88 có 4.500 bao thuốc lá điếu loại 20 điếu/bao, gồm 1.000 bao hiệu Hero, 3.500 bao hiệu Scott nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Thu giữ vật chứng:
- - 01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngày 18/7/2023 của Công ty TNHH một thành viên T5 đối với xe ô tô TOYOTA VIOS biển kiểm soát 62A-330.88; 01 (một) xe và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 62A-330.88 nhãn hiệu Toyota Vios, màu nâu vàng đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen.
- - 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu; 3.500 (ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu.
Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSCT ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “ Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “ Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội " Vận chuyển hàng cấm".
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
2. Về vật chứng:
Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy số thuốc lá điếu nhập lậu 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO (mỗi bao chứa 20 điếu); 3.500 (ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (mỗi bao chứa 20 điếu),
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/7/2024, bị cáo đang ngồi chờ đón khách gần cửa khẩu T4 thì có một người đàn ông (không rõ nhân thân) đến thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu đến tỉnh Bến Tre với tiền công là 500.000 đồng và đỗ đầy xăng xe ô tô, T đồng ý. Sau đó, người đàn ông này dẫn bị cáo đi đến khu đất trống cặp bờ sông cách nơi bị cáo đỗ xe khoảng 10km, tại đây T thấy có nhiều túi nilong màu đen bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu. Lúc này T mở cốp xe ô tô biển số 62A-330.88 thì có khoảng 02-03 người đàn ông không rõ nhân thân mang những túi nilông màu đen trên xếp vào cốp xe, lên ghế xe bên phải và phía sau ghế của tài xế.
Đến 11 giờ 10 phút cùng ngày T điều khiển xe ô tô 62A-330.88 lưu thông trên Quốc lộ A đoạn thuộc tổ D, ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng công an bắt giữ.
Lời nhận tội trên của bị cáo phù hợp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định các bị cáo phạm tội “ vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại đối với thuốc lá điếu nhập lậu là loại hàng cấm. Bị cáo hoàn tòan có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
[4] Xét về nhân thân bị cáo:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhe:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo còn lập công chuộc tội. Ngoài ra bị cáo còn có ông ngoại, bà ngoại và cô ruột là người có công cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, u khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt:
Xét thấy cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo sao cho vừa đảm bảo tính giáo dục, vừa răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.
[7] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :
- - 01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngày 18/7/2023 của Công ty TNHH một thành viên T5 đối với xe ô tô TOYOTA VIOS biển kiểm soát 62A-330.88; 01 (một) xe và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 62A-330.88 nhãn hiệu Toyota Vios, màu nâu vàng. Qua xác minh xe 62A-330.88 do Võ Thị B đứng tên sở hữu. Ngày 02/7/2024 bị cáo T thuê xe của chị B để chở khách (không làm có hợp đồng thuê xe), chị B không biết T vận chuyển hàng cấm. Ngày 29/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả xe và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển kiểm soát 62A-330.88, 01 (một) giấy biên nhận thế chấp ngày 18/7/2023 cho chị Võ Thị B xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen. Qua điều tra điện thoại không liên quan đến sự việc phạm tội. Ngày 23/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trả cho bị cáo xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Cần tịch thu tiêu hủy: 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu; 3.500 (ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu.
[8] Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng và đề nghị mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội " Vận chuyển hàng cấm".
- - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T. 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 02/7/2024.
2. Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 1.000 (một nghìn) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu; 3.500 (ba nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (mỗi bao chứa 20 điếu), không có dán tem thuốc lá nhập khẩu.
( Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024)
3. Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; TÒA - VKSND huyện Châu Thành; - Công an huyện Châu Thành; - CC.THADS huyện Châu Thành; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Võ Thị Thu Ngân |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm (vận chuyển hàng cấm)
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vận chuyển hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"
