|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/ 2024 /HS - ST Ngày: 20 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu và bà Lương Thanh Kỳ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 192/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 197/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Út E, sinh năm 1984 tại Campuchia. “có mặt”
Nơi cư trú: ấp Bến Nôm 2, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D (đã chết). Anh chị em ruột: 07 người; Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Chồng: Nguyễn Văn H – sinh năm 1985; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 21/01/2024, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Đến ngày 25/6/2024, bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.
- Bị hại: Bà Dương Thị H1, sinh năm 1975. “vắng mặt”
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Hồ Thị H2, sinh năm 1978 “vắng mặt”
Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Út E và chị Dương Thị H1 – sinh năm 1975, cùng trú tại B, xã P, huyện Đ có mối quan hệ là hàng xóm của nhau.
Vào khoảng 09 giờ ngày 12/01/2024, sau khi đi từ nhà mẹ chồng ở ấp B, xã P về thì Nguyễn Thị Út E nhìn thấy nhà của chị Dương Thị H1 không có ai ở nhà, cửa cổng mở nên E nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị H1. Thấy bên hông nhà chị H1 có bãi đất trống không có rào chắn nên Em đi thẳng ra sau nhà của chị H1. Tại đây, E thấy có 01 cánh cửa bằng nhôm và thấy có tua vít, búa và kéo để ở góc nhà nên E đã lấy 01 tua vít để vặn khoảng 05 con ốc ở cửa ra; tiếp đó, E dùng kéo cắt tôn rồi dùng búa đập cho cửa tôn bung rộng ra. Sau đó, E dùng tay trái luồn vào trong để mở chốt khóa trong của cánh cửa và đột nhập vào trong phòng ngủ của nhà chị H1 để tìm kiếm tài sản. Khi mở tủ quần áo trong phòng ngủ thì Em nhìn thấy có 01 hộp nhựa màu đỏ hình tròn dùng để đựng trang sức nên Em mở hộp này ra thì thấy có 01 chiếc nhẫn vàng, 01 đôi bông tai bằng vàng nên E đã lấy số vàng này bỏ vào trong túi quần rồi đi về nhà. Sáng cùng ngày, E mang chiếc nhẫn vàng trộm cắp được đến tiệm V1" ở ấp T, xã P, huyện Đ cầm được số tiền 4.500.000 đồng.
Đến khoảng 14 giờ 45 phút ngày 12/01/2024, do lo sợ hành vi của mình bị phát hiện nên Nguyễn Thị Út E đã đến Công an xã P đầu thú và tự nguyện giao nộp 01 đôi bông tai bằng vàng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Út E đã thành khẩn khai nhận hành vi như đã nêu trên.
* Tài sản thiệt hại:
- - 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng có gắn các hạt màu trắng và 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá.
Căn cứ Kết luận giám định số 879/KL-KTHS ngày 02/2/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C tại TP . xác định:
- - 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng có gắn các hạt màu trắng, tổng khối lượng (cả hạt): 6,925 gam (ký hiệu M1) gửi giám định có thành phần kim loại là V (A), hàm lượng: 60,15%; Đồng (Cu), hàm lượng: 21,84%; Bạc (A), hàm lượng 18,01%.
- - 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá, tổng khối lượng (cả đá): 6,7546 gam gửi giám định có thành phần kim loại là V (A), hàm lượng: 59,71%; Đồng (Cu), hàm lượng: 23,76%; Bạc (A), hàm lượng 16,53%.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ ngày 24/10/2022 kết luận tổng giá trị tài sản nêu trên là 7.050.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 tua vít, 01 cái búa và 01 cái kéo thuộc sở hữu của chị Dương Thị H1 nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị H1.
Trách nhiệm dân sự:
- - Chị Dương Thị H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Út E phải bồi thường.
- Đối với chị Hồ Thị H2 – sinh năm 1978, trú tại ấp T, xã P, huyện Đ là chủ tiệm vàng “Kim Trang”, quá trình điều tra xác định khi nhận cầm 01 nhẫn vàng từ Nguyễn Thị Út E, chị H2 không biết đó là tài sản do Em trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý đối với chị H2. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Út E đã tự nguyện trả lại số tiền 4.500.000 đồng cho chị H2 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số 317/CT-VKSĐQ ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Thị Út E về tội “ trộm cắp tàn sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út E từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu Nguyễn Thị Út E phải bồi thường vì vậy không xem xét.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Út E đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 12/01/2024, Nguyễn Thị Út E đã đột nhập vào nhà chị Dương Thị H1 ở ấp B, xã P, huyện Đ và trộm cắp 01 đôi bông tai bằng vàng và 01 chiếc nhẫn bằng vàng của chị H1,trị giá tài sản thiệt hại là 7.050.000 đồng. Hành vi do bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 317/CT-VKSĐQ ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Thị Út E về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Út E sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú và tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp. Tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi toàn bộ. Bị cáo là phụ nữ, không biết chữ nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ quyết định hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm hại đến đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo ngoài việc xâm hại đến tài sản còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Nhằm tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ- HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương
cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và cũng để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị H1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm vì vậy HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội Đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
- - Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Út E phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Út E 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Út E cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Út E phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thịnh |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
