Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/11/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hoàn

Bà Vương Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 387/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/10/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; trú tại: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 1977; trú tại: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*) Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị T và anh T1 tự nguyện chung sống với nhau và tổ chức cưới từ năm 2000, đến ngày 30/9/2004 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyền số 04.

Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được vài năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, càng ngày mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng không giải quyết được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Chí Hiếu B, sinh ngày 23/11/2004; Nguyễn Minh T2, sinh ngày 12/10/2006 và Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 28/7/2014. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Nguyễn Minh T2 và Nguyễn Ngọc Quỳnh N. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử cháu Nguyễn Minh T2 đã đủ 18 tuổi nên chị T thay đổi yêu cầu khởi kiện. Chị T yêu cầu anh T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con Nguyễn Ngọc Quỳnh N 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Đối với con Nguyễn Chí Hiếu B, sinh ngày 23/11/2004 và con Nguyễn Minh T2, sinh ngày 12/10/2006 đến thời điểm xét xử đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*) Theo bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Chí T1 trình bày:

Anh T1 thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, thời gian đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung.

Vợ chồng không có mâu thuẫn gì thường xuyên, chỉ có một lần vợ la tôi không lo cơm nước cho con nên tôi có bạt tai vợ. Sau đó tôi thấy lỗi của mình và đã xin lỗi vợ. Trước yêu cầu khởi kiện của vợ, tôi không đồng ý ly hôn và mong vợ tha thứ để về đoàn tụ gia đình.

Anh Nguyễn Chí T1 được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự:

[1.1] Chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí T1 hiện đang trú tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Anh T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, chị T có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T và anh T1 theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyền số 04 ngày 30/9/2004, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 là hợp pháp.

[2.2] Quá trình tố tụng chị T xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng không ai còn quan tâm đến nhau nữa.

Anh T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tại bản tự khai anh T1 cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn và không đồng ý ly hôn với chị T.

Xét thấy, mặc dù anh T1 cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn nhưng theo lời khai của của các con Nguyễn Minh T2 và Nguyễn Ngọc Quỳnh N thì chị T và anh T1 thường xuyên mâu thuẫn, nhiều lần anh T1 đánh chị T. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T và T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1.

[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Chí Hiếu B, sinh ngày 23/11/2004; Nguyễn Minh T2, sinh ngày 12/10/2006 và Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 28/7/2014. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc Quỳnh N. Chị T yêu cầu anh T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con Nguyễn Ngọc Quỳnh N 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Đối với con Nguyễn Chí Hiếu B, sinh ngày 23/11/2004 và con Nguyễn Minh T2, sinh ngày 12/10/2006 đã thành niên, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét thấy, việc chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm và nghĩa vụ chung của cha mẹ. Cháu N và cháu T2 đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Anh T1 không có ý kiến gì về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và việc học tập của các cháu, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh T1 thực

hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Nguyễn Ngọc Quỳnh N 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực đến khi con Như đủ 18 tuổi.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đối với bị đơn anh Nguyễn Chí T1 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Chí T1 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 119, quyền số 04 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 30/9/2004).

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 28/7/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Chí T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Nguyễn Ngọc Quỳnh N 2.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực đến khi con Như đủ 18 tuổi.

Đối với con Nguyễn Chí Hiếu B, sinh ngày 23/11/2004 và con Nguyễn Minh T2, sinh ngày 12/10/2006 đã thành niên, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Sau ly hôn, chị T và anh T1 có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0001425 ngày 07/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Buộc anh T1 phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: niêm yết
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger