|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2024/HS-PT Ngày 15-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Xuân Tuyến |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Bích Thủy |
| Bà Bùi Thị Thúy Hà |
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trương Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 158/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 21 tháng 9 năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Hoàng Thị T; có vợ là chị Phạm Thị Thu H1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 15/01/2024; có mặt.
- Ngoài ra còn có bị cáo Bùi Văn C không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H: Ông Phạm Văn H2 và ông Vũ Văn N, là luật sư của Công ty L2 - chi nhánh H3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị hại:
- + Anh Trần Đức T1, sinh năm 1986; nơi ở hiện tại: Tổ A phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- + Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1998; nơi ở hiện tại: Thôn I, Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; vắng mặt;
- + Anh Bùi Hữu M, sinh năm 1995; nơi ở hiện tại: Thôn R, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/6/2023, anh Nguyễn Văn H, Bùi Văn C, Bùi Văn L, Ngô Đức T2 và chị Quàng Thị L1 tụ tập tại nhà nghỉ T4 để ăn uống. Do anh L nhìn thấy chị Quàng Thị L1 (bạn gái anh L) có nhắn tin qua lại với anh Bùi Hữu M nên anh L đã lấy điện thoại chị L1 để nhắn tin hẹn gặp anh M tại nhà nghỉ Thái Lan vào tối ngày 21/6/2023 để nói chuyện. Anh M tưởng chị L1 nhắn tin nên đã mượn xe mô tô biển kiểm soát 35N1-524.05 của anh Nguyễn Xuân B đi đến điểm hẹn. Do trời tối nên trên đường đi M nhặt 01 con dao (dạng dao gọt hoa quả dài khoảng 20cm) cài ở võng xe để phòng thân. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 22/6/2023, M đến cửa nhà nghỉ T4 thì L và Công đi xuống. L chửi anh M và dùng tay ghì cổ anh M xuống, anh M chạy ra lấy dao ở võng xe khua về phía L nhưng không trúng. Lực nhặt 01 viên gạch ở dưới đất còn C chạy vào khu bếp nhà nghỉ lấy 01 con dao phay định đánh lại thì anh M bỏ chạy nấp ở bụi cây gần đó. L, C đuổi theo nhưng không thấy M nên quay lại thì thấy chiếc xe mô tô của anh Mạnh D ở đường vẫn cắm chìa khóa, L bảo cứ để đó M quay lại lấy rồi lên nhà nghỉ tiếp tục ăn uống. Anh M gọi điện cho anh Nguyễn Hữu Q đến đón. Khoảng 30 phút sau, anh Trần Đức T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15N1-292.32 chở anh Q đến đón M. Lúc này, C và H xuống để đi về, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15K1-458.77 chở C đi đến đường C đoạn thuộc thôn K, xã H, huyện A thì gặp xe của anh T1 chở M và Q đi phía trước theo hướng A - cầu K. Công nhận ra anh M ngồi giữa nên bảo H điều khiển xe đuổi theo để chặn đánh anh M, H tăng tốc đuổi theo xe của anh T1, vừa đuổi vừa hô hoán yêu cầu dừng xe lại. Anh T1 chở M và Q bỏ chạy về phía cầu K. Khi xe của anh T1 đến gần giữa cầu thì xe của H đuổi kịp về phía bên trái xe của anh T1, H dùng chân phải đạp một phát vào phía trước đầu xe của anh T1 khiến xe mất lái đâm vào thành cầu làm xe mô tô đổ xuống đường, T1, M, Q bị ngã đập người vào thành cầu. H và C xuống xe cầm mũ bảo hiểm xông đến định đánh anh M, anh Mạnh tay P cầm dao khua để chống cự đã trúng vào cằm của H, sau đó H và C bỏ đi. Anh T1, M và Q bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.
Cùng ngày, anh Bùi Văn D1 (anh trai M) có đơn trình báo sự việc. Công an huyện A đã thu giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35N1-524.05 tại nhà nghỉ T4.
Kết luận giám định số 698 ngày 06/11/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Hữu M tại thời điểm giám định là 34%.
Kết luận giám định số 699 ngày 23/10/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Đức T1 tại thời điểm giám định là 13%.
Kết luận giám định số 701 ngày 10/10/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu Q tại thời điểm giám định là 20%.
Kết luận giám định thương tích số 211 ngày 18/3/2024 của Trung tâm P1 kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là 04%.
Bị cáo H có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với anh M về hành vi anh M dùng dao gây thương tích cho H. Bùi Văn L có hành vi dùng tay ghì cổ anh M, cầm gạch đuổi đánh anh M tại nhà nghỉ T4. Công an huyện A đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh M và anh L.
Về vật chứng của vụ án: Cơ Công an huyện A đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35N1-524.05 cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân B.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Bùi Văn C đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại số tiền 25.000.000đồng, các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 157/2024/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, d khoản 3 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại bản án sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 15/01/2024. Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 15/01/2024.
Ngoài ra còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 16/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo bản án nêu trên, đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c, d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vai trò của bị cáo H trong vụ án, xác định: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Dương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
-
Về đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
Về phạm vi xét xử: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H có nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo. Căn cứ Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS), cấp phúc thẩm chỉ xem xét về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
-
Về việc vắng mặt của người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo là các ông Phạm Văn H2 và Vũ Văn N, là luật sư của Công ty L2 - chi nhánh H3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H vắng mặt. Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 351 Bộ luật TTHS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo.
- Về nội dung kháng cáo:
-
Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:
-
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm cơ bản phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra. Lời khai của bị cáo cũng cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo khác trong vụ án, lời khai của những bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ ngày 21/6/2023, bị cáo Nguyễn Văn H điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 15K1-458.77 chở Bùi Văn C đi đến đường C, đoạn thuộc thôn K, xã H, huyện A theo hướng huyện A đi cầu K thì gặp xe máy do anh Trần Quang T3 điều khiển chở các anh Nguyễn Hữu Q và Bùi Hữu M đang chạy cùng chiều phía trước. Công nhận ra anh M đang ngồi giữa xe do anh T3 điều khiển nên bảo H tăng tốc để đuổi theo xe của anh T3, vừa đuổi vừa hô hoán yêu cầu anh T3 dừng xe. Anh T3 chở M và Q bỏ chạy về phía cầu K. Khi xe của anh T3 chạy đến đoạn giữa cầu thì mất lái đâm vào thành cầu, các anh T3, M và Q bị thương được đưa đi cấp cứu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo H đều không thừa nhận hành vi, dùng chân phải đạp vào đầu xe do anh T3 điều khiển dẫn đến xe của anh T3 mất lái đâm vào thành cầu. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H khai không nhớ có dùng chân đạp vào đầu xe của anh T3 hay không. Xét tại cơ quan điều tra, các bị hại đều khai nhận: Khi xe máy do bị cáo H chở bị cáo C đuổi theo xe do anh T3 điều khiển chở theo anh M ngồi giữa, anh Q ngồi sau. Khi đuổi kịp H đã cho xe áp sát phía bên ngoài, bên phải theo chiều xe và dùng chân phải đạp vào đầu xe do anh T3 điều khiển, hậu quả xe bị mất lái và đâm vào thành cầu K. Lời khai của các bị hại phù hợp với diễn biến sự việc. Do vậy, có căn cứ xác định trong khi xe máy do anh T3 điều khiển chạy với tốc độ cao để trốn chạy khỏi sự truy đuổi của các bị cáo, bị cáo H đã dùng chân phải đạp vào đầu xe máy do anh T3 đang điều khiển, và đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc xe do anh T3 bị mất lái và đâm vào thành cầu. Hậu quả, anh T3 bị tổn thương cơ thể 13%, anh Q bị tổn thương cơ thể 20% và M bị tổn thương cơ thể 34%. Thương tích trên của các bị hại không do các bị cáo trực tiếp gây ra, mà do hậu quả của tai nạn giao thông. Tuy nhiên, bị cáo nhận thức được và buộc phải nhận thức được hậu quả của hành vi dùng xe máy chạy tốc độ cao đuổi theo xe máy của bị hại cũng chạy với tốc độ cao để trốn chạy khỏi sự truy đuổi, tiếp theo đó đã dùng chân đạp vào đầu xe máy đang chạy là hành vi nguy hiểm có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. Mặt khác, hành vi của các bị cáo có khả năng gây nguy hại cho nhiều người. Các bị cáo không mong muốn hậu quả xảy ra, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về thương tích của các bị hại. Do vậy, cấp sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
-
Về tình tiết định khung: Hậu quả do hành của các bị cáo đã gây thương tích cho anh M 34%, anh Q 20% và anh T3 13% tổn thương cơ thể. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này” và điểm d khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này”. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo các điểm c, d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
-
-
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
-
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Do vậy bị cáo H được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
-
Về hình phạt: Khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là tù từ 05 năm đến 10 năm. Bị cáo phải chịu 02 tình tiết định khung hình phạt. Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định mức hình phạt 06 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Văn H là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
-
Từ những phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Như vậy, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
-
Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng:
Căn cứ vào điểm c, d khoản 3 Điều 134, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm b khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 15/01/2024.
-
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 177/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 172/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 172/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
