TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-ST Ngày 11 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Dũng.
- Ông Lưu Văn Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Cao Hồng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc T, sinh năm 1984 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu: Tổ dân phố V, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: Tổ dân phố A, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị Đ; vợ Nguyễn Thị Lệ T2 và 03 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Phúc; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 20 giờ ngày 02/9/2024, Nguyễn Quốc T đi bộ đến khu vực phía sau khách sạn K thuộc phường Đ, thành phố V để mua mua túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết, đeo khẩu trang, đầu đội mũ lưỡi chai đang đứng ở vỉa hè và mua được của người này 01 chỉ ma tuý ke và 01 viên ma tuý kẹo với giá 1.800.000 đồng. Sau đó, T về nhà và sử dụng hết ½ viên ma tuý kẹo, nửa viên còn lại để trong túi nilon nhỏ và cất giấu trong túi giả da ở phòng ngủ tầng 2, còn túi ma tuý ke T để vào phong bì thư và cất giấu ở ngăn tủ thứ 3 trong phòng ngủ tầng 4.
Đến 18 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy – Công an thành phố V phối hợp với Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Nguyễn Quốc T phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ tầng 2 nhà T 01 túi nilon bên trong chứa mảnh viên nén màu xanh được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A2; thu giữ tại ngăn tủ thứ 3 trong phòng ngủ tầng 4 có 01 túi nilon nhỏ bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A1. Tại thời điểm kiểm tra nhà ở của T còn có vợ là chị Nguyễn Thị Lệ T2 và em vợ T là chị Nguyễn Thị N. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc loa và 01 chiếc đèn laze màu đen.
Tại Kết luận giám định số: 2585/KL-KTHS ngày 07/9/2024 đã kết luận: Tinh thể dạng đá, màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 1,3833g (Một phảy ba tám ba ba gam, không kể bao bì). Mảnh viên nén màu xanh có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1622g (Không phảy một sáu hai hai gam, không kể bao bì).
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V đã thông báo Kết luận giám định trên cho T và T không có ý kiến gì.
Về nguồn gốc số ma túy T khai mua được của một người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Đ về người nam giới đã bán ma tuý cho T có đặc điểm nhận dạng như T đã khai nhưng không xác định được người này là ai, ngoài lời khai của T không có căn cứ nào khác để xác định chính xác người nam giới đã bán ma túy cho T trong ngày 02/9/2024 nên tiếp tục điều tra, xác minh, nếu làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị N (em vợ của T) và chị Nguyễn Thị Lệ T2 (vợ T), qúa trình điều tra xác định chị N và chị T2 không biết việc T sử dụng và cất giấu ma tuý, kết quả xét nghiệm tại thời điểm T bị bắt, chị N và chị T2 đều âm tính với chất ma túy nên không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên cơ quan điều tra không xử lý.
Cáo trạng số: 183/CT-VKSTP.VY ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Nguyễn Quốc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Bị cáo T không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 18 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy – Công an thành phố V phối hợp với Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Nguyễn Quốc T tại địa chỉ: Số nhà B, đường Đ, thuộc Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố V đã phát hiện và thu giữ trong túi giả da màu đen của T 01 túi nilon bên trong chứa mảnh viên nén màu xanh theo kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1622g và một phong bì thư bên trong có túi nilon nhỏ, chứa các hạt tinh thể dạng đá, màu trắng theo kết luận giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 1,3833g, số ma túy này T mua và cất giấu sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân.
Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng và thể tích chất ma tuý xác định: Các chất ma tuý Methamphetamine và Ketamine không được quy định trong một điểm của Điều 249 của Bộ luật hình sự. Khối lượng các chất ma tuý đều thấp hơn khối lượng tối thiểu theo khoản 2 Điều 249 (Khối lượng tối thiểu theo khoản 2 Điều 249 của Methamphetamine là 05 gam, Ketamine là 20 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma tuý này là (1,3833/20 x 100) + (0,1622/5 x 100) = 6,91% + 3,24% = 10,15% < 100%. Như vậy, hành vi của T đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Nội dung Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
“Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung, chính vì vậy cần đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.... Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Vật chứng của vụ án:
Đối với số ma túy 1,3290g và 0,1182g cùng toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc loa và 01 chiếc đèn laze màu đen đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị T2 mua để sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên đã trả lại cho chị T2.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 04/9/2024.
2. Vật chứng của vụ án:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu để tiêu hủy 01 mẫu vật giám định gồm A1 = 1,3290g, A2=0,1182g cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói mẫu trả vụ 2395/2024.
(Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố V với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoài |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Tuấn tàng trữ trái phép chất ma túy
