Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HSST

Ngày: 31/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Long Văn Thanh

2. Bà Phan Thị Bích Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Triệu Bảo Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2024/QĐXXST- HS ngày 16/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Ngọc L, tên gọi khác: không; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1990 tại huyện Q, tỉnh Cao Bằng; HKTT: Xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Giáp Ngọc C, sinh năm 1963; con bà: Đinh Thị T, sinh năm 1967; Vợ: Nông Thị T1, sinh năm 1988, trú tại: Xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; con: có 01 con sinh năm 2013; Anh, chị, em ruột: bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; Tiền sự: Không; Tiền án: không.

Nhân thân: Ngày 28/5/2017 Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;

Ngày 17/6/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có;

1

Ngày 11/01/2022 Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 26/6/2024 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Thị T1, sinh năm 1988 Trú tại: tổ D, phường H, thành phố C. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 26/6/2024, Giáp Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 11U1- 153.60 đi từ nhà đến khu vực B xe khách liên tỉnh thành phố Cao Bằng thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết, dáng giống người nghiện nên hỏi mua ma túy. Người này đồng ý. Lập đưa cho người này số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Người này nhận tiền rồi đưa cho L 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được H, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1 – 153.60 đến khu vực xóm N, xã H, thành phố C tìm chỗ sử dụng thì bị Công an xã H, thành phố C bắt quả tang (vào hồi 15 giờ 25 phút cùng ngày), vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng lẫn bột (L khai nhận là H), thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải L đang mặc;
  • + 01 (một) xe mô tô màu đen bên ngoài có chữ HONDA WAVE, biển kiểm soát 1101 – 153.60, xe cũ đã qua sử dụng.

Hồi 17 giờ 45 phút ngày 26/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Giáp Ngọc L, kết quả: Tang vật quả tang có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam).

Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 913 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 402 ngày 04/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh C, kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine(Heroin)”.

Tại bản Cáo trạng số: 156/CT-VKSTP ngày 03/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Giáp Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và trọng lượng ma túy bị thu giữ, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều

2

tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án. Về tài sản thu giữ không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông Thi T2 có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà và có yêu cầu được trả lại 01 (một) chiếc xe mô tô màu đen nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11U1- 153.60. Về trách nhiệm hình sự: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Giáp Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 402/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Giáp Ngọc L, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trả lại cho bà Nông Thị T1 01 (một) xe mô tô màu đen bạc nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 11U1- 153.60.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập về hành vi, quyết định tố tụng

3

của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ 25 phút ngày 26/6/2024 tại khu vực xóm N, xã H, thành phố C, Công an xã H, thành phố C bắt quả tang Giáp Ngọc L có hành vi tàng trữ trái phép 0,11g (không phẩy mười một gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Giáp Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xét xử về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và bị Công an xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên orc hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, trọng lượng ma tuý tàng trữ và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố. Bị cáo sử dụng ma tuý thời gian dài nhưng không có ý thức tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia

4

đình và xã hội. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ, trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 402/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Giáp Ngọc L, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô 01 (một) xe mô tô màu đen bạc nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 11U1- 153.60, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe là Nông Thi T2. Ngày 26/6/2024, L mượn xe mô tô của T2 nhưng T2 không biết việc L sử dụng chiếc xe làm phương tiện để đi mua ma túy sử dụng nên cần trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị T1 không có yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

[7] Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, L khai mua với một người đàn ông không quen, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[8] Các ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Giáp Ngọc L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

5

Xử phạt bị cáo Giáp Ngọc L 16 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/6/2024.

2. Về việc xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

Tịch thu tiêu hủy:

01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 402/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Giáp Ngọc L, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. (Đã có Kết luận giám định số 402/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C).

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 08 ngày 15/10/2024.

Trả lại cho bà Nông Thị T1:

01 (một) xe mô tô màu đen bạc nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 11U1- 153.60, số khung RLHJA3916KY347044; số máy JA39E2123299. Xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, bạc màu.Yên xe bị rách, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 27/9/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe có 01 chìa khoá kèm theo).

3. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị T1 không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Giáp Ngọc L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

6

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát Tp Cao Bằng;
  • - Công an Tp Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS Tp Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hanh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Long Văn Thanh Phan Thị Bích H1

Nguyễn Thị H2

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 172/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giáp Ngọc L bị tuyên án 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger