Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HSST

Ngày: 28-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Nghĩa – Giáo viên.

Bà Nguyễn Thị Bích Vân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXXST-HS ngày 25-7-2024 đối với các bị cáo:

  1. LƯƠNG ĐỨC M, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/01/2007 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: 2 L, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Học nghề cắt tóc; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T, sinh năm 1981 và bà Dương Thị L, sinh năm 1983; bị cáo có 02 em ruột sinh năm 2012 và 2021; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07-02-2024 cho đến nay. Có mặt.

  2. TRẦN THÁI B, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/7/2006 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ G, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Học sinh lớp 12A1 Trường THPT C; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1987; bị cáo có 02 em ruột sinh năm 2008 và 2016; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07-02-2024 cho đến nay. Có mặt.

  3. TRƯƠNG ĐÌNH MẠNH, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14/02/2005 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn E, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn Q, sinh năm 1978 và bà Võ Thị Thúy H, sinh năm 1980; bị cáo có 02 anh ruột (sinh năm 2001, sinh năm 2003); bị cáo chưa có vợ, con.
    • Ngày 27/5/2022, bị Công an thành phố P xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền, về hành vi tàng trữ hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt.
    • Ngày 05/3/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại TP .; ngày 05/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
    • Ngày 25/3/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 năm tù về tội: “Giết người” và 09 tháng tù về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số 13/2024/HSST-CTN.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo Trương Đình M đang chấp hành án tại trại giam X – Bộ C1. Có mặt.

  4. ĐẶNG NGỌC T2, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/02/2006 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn A, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng T3, sinh năm 1974 (Đã chết) và bà Bùi Thị Kim L1, sinh năm 1974; bị cáo có 03 anh, chị ruột (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006); bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07-02-2024 cho đến nay. Có mặt.

  5. TRƯƠNG AN BÌNH, (tên gọi khác: Năm), sinh ngày 27/02/2007 tại Gia Lai; nơi thường trú: 1 N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Số H đường M, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình K và bà Phạm Thị Lệ Y; bị cáo có 03 chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007); bị cáo chưa có vợ, con.
    • Ngày 05/3/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại địa bàn nhiều phường của TP .; ngày 05/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
    • Ngày 03/5/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại phường H, TP .; ngày 12/5/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08-4-2024 cho đến nay. Có mặt.

  6. PHẠM XUÂN Đ, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26/9/2005 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng G, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Hồng T4, sinh năm 1987; bị cáo có 02 em ruột sinh năm 2008 và 2014; bị cáo chưa có vợ, con.
    • Ngày 10/7/2022, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại phường Đ, TP .; ngày 06/12/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
    • Ngày 16/4/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại phường D, TP .; ngày 22/4/2024, bị Cơ quan điều tra khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

    Tiền sự: Không. Tiền án: Không.

    Bị cáo Phạm Xuân Đ đang bị áp dụng biện pháp tạm giam trong vụ án khác, tại Nhà tạm giữ Công an T.

  7. HỒ TIẾN THỰC, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/3/2005 tại Nghệ An; nơi cư trú: Thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Tiến T5, sinh năm 1977 và bà Cù Thị N1, sinh năm 1978; bị cáo có 02 chị, em ruột sinh năm 2000 và 2015; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo Hồ Tiến T6 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

  8. TRƯƠNG BÌNH AN, (tên gọi khác: T7), sinh ngày 27/02/2007 tại Gia Lai; nơi thường trú: 1 N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Số H đường M, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình K và bà Phạm Thị Lệ Y; bị cáo có 03 chị, em ruột (sinh năm 2005 và sinh năm 2007); bị cáo chưa có vợ, con.
    • Ngày 05/3/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại nhiều phường trên địa bàn TP .; ngày 05/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
    • Ngày 03/5/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại phường H, TP .; ngày 12/5/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
    • Ngày 25/3/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Giết người” (theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự), tại Bản án số 13/2024/HSST-CTN.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo Trương Bình A bị áp dụng biện pháp tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

  9. CÁI THÀNH THỊNH, (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/6/2005 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn D, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cái Thành N2, sinh năm 1977 và bà Trần Thị D, sinh năm 1983; bị cáo có 03 anh, em ruột (sinh năm 2004, sinh năm 2021); bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo Cái Thành T8 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02-4-2024 cho đến nay. Có mặt.

  10. LÊ KHẮC Đ1, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/6/2006 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn G, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết V, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1986; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 2004; bị cáo chưa có vợ, con.
    • Ngày 05/3/2023, cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng tại nhiều phường trên địa bàn TP .; ngày 05/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;

    Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo Lê Khắc Đ1 bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02-4-2024 cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ G, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  3. Anh Cao Lê H1, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn E, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Huy Thái K2, sinh năm 2006; địa chỉ: 1 N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Vắng mặt.
  5. Anh Trần Lâm S, sinh năm 2004; địa chỉ: Khu V T, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
  6. Anh Nay Anh H2, sinh năm 2006; địa chỉ: B T, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  7. Anh Ngô Văn L2, sinh năm 2007; địa chỉ: 5 H, Tổ B, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

    Đại diện hợp pháp của Ngô Vân L3: Bà Bùi Thị O, sinh năm 1989; địa chỉ: 5 H, Tổ B, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

  8. Anh Nguyễn Vân T9, sinh năm 2007; địa chỉ: A P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

    Đại diện hợp pháp: Chị Lê Thị Minh H3; địa chỉ: A P, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

  9. Anh Đỗ Nguyễn Anh T10, sinh năm 2007; địa chỉ: C T, làng C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

    Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1968; địa chỉ: C T, làng C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  10. Anh Nguyễn Đỗ H4, sinh năm 2007; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

    Đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đỗ H4: Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  11. Ông Lương Văn T và bà Dương Thị L; địa chỉ: Làng N, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai – Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Đức M1; (bà L) – Vắng mặt; (ông T) - Có mặt
  12. Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B: Bà Nguyễn Hoàng Kim L4, sinh năm 1981; địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước - tỉnh G. Có mặt.
  13. Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo Trương Bình A, Trương An B1 và Lê Khắc Đ1: Ông Huỳnh Văn K3, sinh năm 1984; địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước - tỉnh G. Có mặt.
  14. Đại diện Đoàn thanh niên phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt.
  15. Đại diện Đoàn thanh niên phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

    Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:

    Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T, Lê Khắc Đ1 đều có quen biết với Cao Lê H1 (sinh năm 2005, trú Thôn E, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai). Tối ngày 09/9/2023, Đức M1, B, Đình M, T2, A, Đ, T6, B, T8, Đ1 đến dự tiệc sinh nhật của H1 tại quán N4, đường T, phường I, thành phố P. Cùng dự tiệc sinh nhật H1 còn có Đỗ Nguyễn Anh T10 (sinh ngày 10/10/2007, trú làng C, phường T, thành phố P), Nguyễn Đỗ H4 (sinh ngày 20/10/2007, trú Tổ E, phường T, thành phố P), Nguyễn Vân T9 (sinh ngày 10/11/2007, trú số B đường P, phường T, thành phố P), Ngô Văn L2 (sinh ngày 12/10/2007, trú Thôn A, xã P, huyện I, tỉnh Gia Lai), Nguyễn Huy Thái K2 (sinh năm 2006, trú số A đường N, phường T, thành phố P), Trần Lâm S (sinh năm 2004, trú phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định), Nay Anh H2 (sinh năm 2006, trú số B đường T, phường T, thành phố P), Mai Hoàng Phi L5 (sinh năm 2007, trú đường L, phường Đ, thành phố P) và một số nam thanh niên tên Tuấn A1, Tuấn A2, Nguyễn Anh P1, Phúc N3, N, Nguyễn Q1, Trần A3, C, H5 (đều chưa xác định được nhân thân, địa chỉ). Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi dự tiệc sinh nhật xong tất cả ra về thì có người (chưa xác định được là ai) nói to: “Đi dạo, đi dạo”; nghe vậy, phần lớn những người có mặt đều hưởng ứng và hiểu là cùng nhau điều khiển xe mô tô đi dạo trên các tuyến đường ở TP .. Cao Lê H1, Nguyễn Huy Thái K2, Trần Lâm S, Nay Anh H2, Mai Hoàng Phi L5 không tham gia đi dạo, mà tách ra để về. Nhóm đi dạo bắt đầu đi chuyển từ quán N4 theo đường W - H - H - T, TP .. Cả nhóm sử dụng xe mô tô và chở nhau như sau:

    • Lương Đức M1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen, biển số 81U1–279.85 chở Đỗ Nguyễn Anh T10;
    • Trần Thái B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Liberty màu xanh, biển số 81G1–060.00 chở Nguyễn Đỗ H4;
    • Cái Thành T8 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen, biển số 81B3–187.57 chở Trương Đình M.
    • Hồ Tiến T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu đỏ (chưa xác định được biển số) chở Trương An B1 và một người (chưa xác định là ai);
    • Đặng Ngọc T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu trắng (chưa xác định được biển số) chở Lê Khắc Đ1;
    • Phạm Xuân Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu trắng – xanh (chưa xác định được biển số) chở Trương Bình A;
    • Phúc N3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đỏ (chưa xác định được biển số) chở Nguyễn Vân T9.
    • Nguyễn Anh P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen (chưa xác định được biển số) chở Ngô Văn L2.

    Các đối tượng còn lại gồm Tuấn A1, Tuấn A2, N, Nguyễn Q1, Trần A3, C, H5 chở nhau trên một số xe mô tô khác, chưa xác định được người điều khiển, biển số xe.

    Khi cùng nhau đi đến đường T đoạn giao nhau với đường N, thuộc phường T, thành phố P, thì những người điều khiển xe mô tô đồng loạt nẹt pô, bấm còi, di chuyển nhanh. Lúc này khoảng 21 giờ ngày 09/9/2023, Nguyễn Đỗ Hương M2 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max của Trần Thái B và sử dụng điện thoại này quay phim hành động cả nhóm, nhằm mục đích đăng tải lên mạng xã hội; B điều khiển xe mô tô vượt lên trước, để H4 quay người lại quay phim cả nhóm. Thấy H4 quay phim, những người điều khiển xe mô tô dàn thành hàng ngang trên đường, rồi từng xe bấm còi, rú ga, tăng tốc vượt lên trước. Khi đi đến ngã tư L (nơi giao nhau giữa các đường T, Lê Thánh T11, Võ Nguyên G1, Nguyễn Chí T12), cả nhóm quay lại ngã tư P (nơi giao nhau giữa các đường T, L, Nguyễn Tất T13, H). Trong thời gian khoảng 30 phút (từ khoảng 21 giờ đến 21 giờ 30 phút), cả nhóm chở nhau chạy khoảng 02–03 vòng từ ngã tư P đến ngã tư L, thực hiện hành vi dàn xe thành hàng ngang, nẹt pô, bấm còi, gây náo loạn đường phố, ảnh hưởng đến giao thông, rồi sau đó giải tán đi về. Đoạn video H4 quay bằng điện thoại di động của B, sau đó B gửi cho H4 thông qua ứng dụng Messenger. Ngày 01/10/2023, ông Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1967, trú số E đường L, Tổ E, phường T, thành phố P – là cha của H4) phát hiện được đoạn video nêu trên; nhận thấy hành vi của các đối tượng trong đoạn video có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nên ông K1 đến Công an phường T, TP . trình báo và giao nộp đoạn video trên. Sau khi tiếp nhận tố giác của ông K1, Công an phường T chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T để làm rõ, xử lý; đoạn video do ông K1 giao nộp được lưu giữ trong đĩa DVD, tên file MPEG-4-1694320576074 và được niêm phong theo quy định.

    Sau khi tiếp nhận vụ việc từ Công an phường T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T đã triệu tập, làm việc với Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T, Lê Khắc Đ1 và một số đối tượng liên quan. Tại Cơ quan điều tra Đức M1, B, Đình M, T2, A, Đ, T6, B, T8, Đ1 đều khai nhận về hành vi tụ tập đông người, điều khiển xe mô tô dàn thành hàng ngang trên đường, nẹt pô, bấm còi, gây mất trật tự nơi công cộng và ảnh hưởng giao thông ở trung tâm TP . như nêu trên. Bà Nguyễn Thị Yến N (mẹ của bị cáo B) giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max và xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Liberty màu xanh, biển số 81G1-060.00.

    Các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương An B1, Cái Thành T8 và Lê Khắc Đ1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

  2. Các vấn đề khác:

    Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với đoạn video do ông Nguyễn Văn K1 giao nộp. Tại Kết luận giám định số 2440/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt, ghép nội dung hình ảnh trong file video mẫu cần giám định.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.

  3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

    Bản cáo trạng số: 164/CT-VKS ngày 08-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

    Về hình sự:

    Tuyên bố các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Lương Đức M1, Trần Thái B và Đặng Ngọc T2

    • Xử phạt bị cáo Lương Đức M1 với mức án từ 04 tháng đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án.
    • Xử phạt bị cáo Trần Thái B với mức án từ 04 tháng đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án.
    • Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T2 với mức án từ 04 tháng đến 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trương Đình M.

    • Xử phạt bị cáo Trương Đình M với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
    • Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù của Bản án số: 13/2024/HSST – CTN ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các tội, thời hạn chấp hành tính từ ngày 30/9/2023.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58 Điều 90, Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Trương Bình A và Lê Khắc Đ1

    • Xử phạt bị cáo Trương An B1 với mức án 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ với mức án 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
    • Xử phạt bị cáo Trương Bình A với mức án 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành tính từ ngày 12/12/2023
    • Xử phạt bị cáo Lê Khắc Đ1 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các Hồ Tiến T6, Cái Thành T8.

    • Xử phạt bị cáo Hồ Tiến T6 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
    • Xử phạt bị cáo Cái Thành T8 với mức án 06 tháng đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

    Về xử lý vật chứng:

    Không

    Về án phí:

    Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:

Các bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo:

Xét thấy lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo phạm tội như sau:

Trong thời gian từ khoảng 21 giờ đến 21 giờ 30 phút ngày 09/9/2023, trên đường T đoạn từ ngã tư P đến ngã tư L, thuộc phường T, TP ., tỉnh Gia Lai, Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Trương An B1, Trương Bình A, Hồ Tiến T6, Cái Thành T8, Phạm Xuân Đ, Lê Khắc Đ1, Đặng Ngọc T2 và một số đối tượng khác đã thực hiện hành vi chở nhau bằng xe mô tô, dàn hàng ngang trên đường, liên tục nẹt pô, bấm còi, phóng nhanh, gây ồn ào, mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng đến giao thông trên đường T, là một trong các tuyến đường lớn ở trung tâm TP .. Hành vi gây mất trật tự nơi công cộng nêu trên được đối tượng Nguyễn Đỗ H4 (sinh năm 2007, trú Tổ E, phường T, thành phố P) dùng điện thoại di động quay video, mục đích đăng tải lên mạng xã hội; đoạn video trên đã được Cơ quan điều tra thu giữ.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B đồng ý tội danh, các điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát nêu ra và đề nghị áp dụng Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và cho các bị cáo hưởng án Cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo Trương An B1, Trương Bình A và Lê Khắc Đại đồng Ý tội danh, các điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát nêu ra và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt mỗi bị cáo 03 tháng tù.

Điều 318 Bộ luật Hình sự quy định

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

...”

Hành vi tập trung đông người, cùng nhau điều khiển nhiều xe mô tô dàn thành hàng ngang, liên tục nẹt pô, bấm còi, phóng nhanh trên đường T là đoạn đường trung tâm thành phố P gây ồn ào, mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng giao thông, do các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong nhân dân, xâm phạm trật tự công cộng. Hành vi này được Nguyễn Đỗ H4 dùng điện thoại di động quay video, mục đích đăng tải trên mạng xã hội, đoạn video đã được Cơ quan điều tra thu giữ. Do đó, hành vi của các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 đã phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Cái Thành T8, Hồ Tiến T6, Đặng Ngọc T2 trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo Trương Đình M, Trương An B1, Trương Bình A, Lê Khắc Đ1 giữ vai trò giúp sức tích cực.

Hành vi của các bị cáo thực hiện đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm giáo dục cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, các bị cáo Trương An B1, Trương Bình A, Trương Đình M và Phạm Xuân Đ lại có hành vi phạm tội khác; các bị cáo Trương Bình A, Trương Đình M và Phạm Xuân Đ đã bị bắt tạm giam trong vụ án khác; Bị cáo Lê Khắc Đ1 ngày 05/3/2023 bị khởi tố về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét đến tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Đặng Ngọc T2, Hồ Tiến T6, Cái Thành T8 đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị bị cáo Lương Đức M1 có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, bị cáo M1 được áp dụng tình tiết theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Trương Đình M, Phạm Xuân Đ, Trương An B1, Trương Bình A và Lê Khắc Đ1 đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Phạm Xuân Đ, Trương An B1 và Trương Bình A, Lê Khắc Đ1, Đặng Ngọc T2 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Để quyết định mức hình phạt chính xác, phù hợp vừa đảm bảo tác dụng cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Qua xem xét các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Đặng Ngọc T2 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Mặt khác, khi phạm tội các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Đặng Ngọc T2 chưa đủ 18 tuổi. Đối chiếu với các quy định tại Điều 31, Điều 32, Điều 50, Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B và Đặng Ngọc T2.

Đối với các bị cáo Hồ Tiến T6, Cái Thành T8. Qua xem xét các bị cáo T6 và T8 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với các quy định tại Điều 31, Điều 32, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét nên áp dụng hình phạt hình phạt tù cho hưởng án treo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú cùng với gia đình để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone XS Max và xe mô tô nhãn hiệu Piaggio, loại Liberty màu xanh, biển số 81G1-060.00 do bà Nguyễn Thị Yến N giao nộp, là điện thoại B cho Nguyễn Đỗ Hương M2 để quay video hành vi của các bị cáo trong vụ án và các đối tượng có liên quan; xe mô tô là phương tiện B điều khiển chở H4 đi thực hiện tội phạm. Qua điều tra xác định điện thoại di động và xe mô tô trên là tài sản của bà N; tối ngày 09/9/2023, B mượn điện thoại di động và tự lấy xe mô tô của bà N để đi dự sinh nhật Cao Lê H1; việc B sử dụng điện thoại di động và xe mô tô làm công cụ, phương tiện cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng, thì bà N không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại điện thoại và xe mô tô trên cho bà N là phù hợp.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen, biển số 81U1-279.85 mà Lương Đức M1 điều khiển chở Đỗ Nguyễn Anh T10 đi thực hiện tội phạm, qua điều tra xác định là tài sản của ông Lương Văn T (sinh năm 1981, là cha của M1). Tối ngày 09/9/2023, M1 tự lấy xe mô tô của ông T để đi dự sinh nhật Cao Lê H1; việc M1 sử dụng xe mô tô làm phương tiện cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng, thì ông T không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô trên cho ông T là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu đen, biển số 81B3-187.57 mà Cái Thành Thịnh điều khiển chở Trương Đình M đi thực hiện tội phạm, qua điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị D (sinh năm 1983, là mẹ của T8). Tối ngày 09/9/2023, T8 tự lấy xe mô tô của bà D để đi dự sinh nhật Cao Lê H1; việc T8 sử dụng xe mô tô làm phương tiện cùng đồng phạm thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng, thì bà D không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không thu giữ, xử lý đối với xe mô tô trên là phù hợp.

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu đỏ mà Hồ Tiến T6 điều khiển chở Trương An B1; xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner màu trắng – xanh mà Phạm Xuân Đ điều khiển chở Trương Bình A; xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade màu trắng mà Đặng Ngọc T2 điều khiển chở Lê Khắc Đ1, qua điều tra xác định là tài sản của T6, Đ và Đ1. Chiếc xe mô tô trên T6, Đ và Đ1 đều mua lại của người khác nhưng không làm thủ tục sang tên trên giấy đăng ký; sau khi sử dụng xe làm phương tiện cùng đồng phạm gây mất trật tự công cộng vào ngày 09/9/2023, thì T6, Đ và Đ1 đã bán lại xe cho người khác nhưng không biết họ tên, địa chỉ người mua và cũng không nhớ biển số xe, nên Cơ quan điều tra chưa thu giữ được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được các xe mô tô trên sẽ làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

- Đối với các xe mô tô do đối tượng tên Phúc N3 điều khiển chở đối tượng Nguyễn Vân T9, đối tượng Nguyễn Anh P1 điều khiển chở đối tượng Ngô Văn L2, quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra chưa xác định, chưa làm việc được với các đối tượng trên nên chưa làm rõ và thu giữ được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định được các đối tượng và các xe mô tô trên sẽ làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với đĩa DVD lưu giữ đoạn video có tên: “8711892129633517981", phần mở rộng “.mp4”, ghi lại diễn biến hành vi của các bị cáo trong vụ án và các đối tượng có liên quan, được Cơ quan điều tra lưu trữ vào hồ sơ vụ án là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đa số các bị cáo là vị thành niên, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Tổng hợp hình phạt của các bản án:

Bản án số 13/2024/HSST-CTN ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xử phạt:

Trương Bình A: 02 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”

Bản án số 133/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xử phạt:

Trương Bình A: 01 năm 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ Khoản 3 Điều 56 Bộ luật Hình sự: Bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp. Mặt khác, các bản án có hiệu lực nói trên của các Tòa án không cùng cấp. Do đó, thẩm quyền tổng hợp hình phạt của nhiều bản án thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ không tổng hợp hình phạt của bản án nêu trên.

[7] Về án phí: Các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với các đối tượng Nguyễn Đỗ H4, Đỗ Nguyễn Anh T10, Nguyễn Vân T9, Ngô Văn L2, đến thời điểm tham gia thực hiện hành vi gây mất trật tự công cộng trong vụ án này, thì đều chưa đủ 16 tuổi nên không chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Gây rối trật tự công cộng”. Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên bằng hình thức: Cảnh cáo là phù hợp.

Đối với các đối tượng tên Tuấn A1, Tuấn A2, N, Nguyễn Q1, Trần A3, Cao T14, H5, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ và chưa làm việc được, nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào xác định và làm việc được với các đối tượng trên, sẽ xem xét và xử lý sau là phù hợp.

Đối với các đối tượng Nguyễn Huy Thái K2, Trần Lâm S, Nay Anh H2, Cao Lê H1, Mai Hoàng Phi L5, qua điều tra xác định không tham gia thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng với các bị cáo trong vụ án, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

  1. Tuyên bố các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trương Đình M.

    Xử phạt bị cáo Trương Đình M 09 (chín) tháng tù.

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù của Bản án số: 13/2024/HSST – CTN ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 30/9/2023.

    Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Lương Đức M1

    Xử phạt bị cáo Lương Đức M1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Lương Đức M1 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

    Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Thái BĐặng Ngọc T2.

    Xử phạt bị cáo Trần Thái B 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Trần Thái B cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P nhận được Quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Đặng Ngọc T2 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 98; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Trương Bình A và Lê Khắc Đ1

    Xử phạt bị cáo Trương An B1 06 (sáu) tháng tù,

    Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

    Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù của Bản án số: 133/2024/HSST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

    Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

    Xử phạt bị cáo Trương Bình A 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 12/12/2023.

    Xử phạt bị cáo Lê Khắc Đ1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

    Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các Hồ Tiến T6, Cái Thành T8.

    Xử phạt bị cáo Hồ Tiến T6 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án 28/8/2024.

    Xử phạt bị cáo Cái Thành T8 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án 28/8/2024.

    Giao bị cáo Hồ Tiến T6 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Giao bị cáo Cái Thành T8 cho Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    Buộc các bị cáo Lương Đức M1, Trần Thái B, Trương Đình M, Đặng Ngọc T2, Trương An B1, Phạm Xuân Đ, Hồ Tiến T6, Trương Bình A, Cái T và Lê Khắc Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Công an thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Pleiku;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 172/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger