TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-PT Ngày: 23/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thị Thủy
- Bà Hoàng Thị Nguyệt
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 238/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HSST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, đối với:
* Bị cáo kháng cáo họ và tên: Lê Duy Đ; sinh ngày: 09/10/1986 tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD/CMND: [...]; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Duy K và bà Bùi Thị M; Vợ là: Nguyễn Thị H; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự: Không, tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 13/10/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng tại cơ sở cai nghiện số 1 Thanh Hóa. Ngày 29/4/2024 bị cáo đã chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện có mặt tại phiên tòa.
Vụ án có 01 bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, nên Dương Văn T đã nhiều lần đến chơi với ông Nguyễn Xuân T1 làm nhiệm vụ bảo vệ tại xưởng đá của Công ty TNHH C thuộc làng F, xã C, huyện N, T biết trong phòng ở của xưởng đá có cất các hạt me cưa đá đang dừng hoạt động, có mình ông T1 làm bảo vệ trông coi tài sản vào ban đêm, còn ban ngày ông T1 đi làm thuê ở nơi khác, nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp, T đã rủ Lê Duy Đ, trú tại phố T, phường Đ, thành phố T để trộm cắp, Đ đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút, sáng ngày 16/9/2021 T và Đ đi xe mô tô đến nhà chị Dương Thị T2 mượn chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36A-323.60 của chị Dương Thị T2, sau khi mượn được xe ô tô T điều khiển xe chở Đ đến xưởng đá Cao M1, thấy không có người trông coi, cửa cổng đang đóng, T đứng ngoài, Đ đi qua khe cửa cổng vào bên trong khu xưởng đá, đến khu nhà ở nơi có cất hạt me cưa, Đ nhặt một thanh kim loại dài 68cm phá khóa đi vào trong phòng ngủ thấy 02 hộp me cưa để dưới gầm giường, trong đó một hộp còn đóng gói nguyên, còn một hộp đã được mở, Đ vác hộp nguyên ra để ở cổng, Đ tiếp tục quay vào dùng chiếc bì sắc rắn nhặt số hộp me còn lại cho vào bì vác ra cổng, rồi gọi T đưa xe đến chở về nhà chị T2, sau đó T và Đ trả xe ô tô cho chị T2 và dùng xe mô tô chở số tài sản lấy trộm được về xưởng đá của T đang làm cất giấu. Đến ngày 26/9/2021 Lê Duy Đ đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú, giao nộp số tài sản đã trộm cắp và khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 29/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: tài sản có giá trị là 42.090.000 đồng (bốn mươi hai triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận định giá lại tài sản số 89/KL-HĐĐG, ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tài sản có giá trị là: 117.034.000 đồng (một trăm mười bảy triệu, không trăm ba mươi tư nghìn đồng).
Tại phiên tòa ngày 14/3/2023 Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ về lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng về vật chứng của vụ án và định giá lại tài sản trong vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra bổ sung Cơ quan Điều tra Công an huyện N đã nhiều lần yêu cầu định giá lại tài sản. Tại Công văn số 02/TL-HDĐG ngày 25/01/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa từ chối việc định giá lại tài sản lần thứ hai và giữ nguyên Kết luận định giá lại tài sản số 89/KL-HĐĐG, ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HSST ngày 23/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Lê Duy Đ.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Đ 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, án phí, xử lý vật chứng, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo và các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/7/2024 (trong hạn luật định) bị cáo Lê Duy Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Lê Duy Đ cũng thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về hình thức: Bị cáo Lê Duy Đ nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ ở cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm các tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo xuất trình giấy xác nhận của UBND phường Đ, thành phố T đã ủng hộ đồng bào bị bão lụt do cơn bão số 3 gây ra với số tiền là 500.000đ, là tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, đề nghị HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo và giảm cho bị cáo từ 10 - 12 tháng tù so với cấp sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Lời nói sau cùng bị cáo Lê Duy Đ đã biết lỗi, rất hối hận về việc làm của mình, gia đình bị cáo rất khó khăn, là lao động chính trong nhà, rất mong HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Duy Đ trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Tại phiên tòa bị cáo không rút đơn kháng cáo, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo:
[2.1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Duy Đ thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:
Khoảng 10 giờ ngày 16/9/2021, Dương Văn T và Lê Duy Đ, đã có hành vi lén lút trộm cắp 1830 viên hạt me cưa của Công ty TNHH C, tài sản trộm cắp có giá trị là 117.034.000₫ (một trăm mười bảy triệu không trăm ba mươi tư nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Lê Duy Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình khai báo, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ đó áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy Đ 30 (ba mươi) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.2]. Xét các nội dung kháng cáo:
Xét kháng cáo về xin giảm nhẹ hình phạt: Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá bị cáo Lê Duy Đ không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Xét thấy mức hình phạt 30 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là có phần nghiêm khắc. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo hơn nữa do có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nên áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề mà điều luật quy định. Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo xuất trình giấy xác nhận của UBND phường Đ, thành phố T đã ủng hộ đồng bào bị bão lụt do cơn bão số 3 gây ra với số tiền là 500.000₫ là tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, chấp nhận một phần kháng cáo và giảm cho bị cáo 12 (mười hai) tháng tù so với cấp sơ thẩm đã xét xử theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa,.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo: Bị cáo Lê Duy Đ phạm tội lần đầu, nhưng có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng, việc cách ly bị cáo khỏi xã hội như cấp sơ thẩm đã áp dụng là có căn cứ, nên không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Từ các phân tích đánh giá nêu trên, HĐXX xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.
[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lê Duy Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án. Chủ sở hữu tài sản bị xâm hại là Công ty TNHH C có thuê ông Nguyễn Xuân T1 làm bảo vệ trả lương tháng nhưng giữa hai bên không thiết lập Hợp đồng lao động. Tại các BL số 94 và BL150 ông Mai Tiến T3 là người đại diện theo pháp luật của Công ty khẳng định tài sản bị trộm cắp là tài sản của Công ty và có đơn đề nghị xin được nhận lại tài sản nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Xuân T1 là bị hại và trả lại tài sản cho ông T1 là không chính xác. Mặc dù bản án không bị kháng cáo, kháng nghị nội dung này nhưng cần xem xét rút kinh nghiệm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Duy Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HSST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc như sau:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Duy Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 172/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 172/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
