TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-ST Ngày 20-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoan
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Việt Trung
- Ông Nguyễn Văn Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thanh Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh,, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2024/TLST – HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST – HS ngày 03 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:
C V Đ, sinh năm 1997
tại thôn Quyết Tiến, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn Quyết Tiến, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Viết Th và bà Hoàng Thị Th; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền sự: Không
Tiền án: Tại bản án số: 99/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Tại bản án số: 96/2012/HS-ST ngày 11/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay.
Có mặt
* Bị hại: Anh N V P, sinh năm 1977
Nơi cư trú: Khu Sơn Đồng, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh N V T, sinh năm 2003
Cư trú tại: Khu Giang Liễu, phường Phương Liễu, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ sáng ngày 15/01/2024, C V Đ điều khiển xe SKYWAY BKS: 99F4 – 8969 đi một mình từ nhà trọ ở thị xã Quế Võ lên thành phố Bắc Ninh với mục đích tìm xem nhà nào sơ hở thì vào trộm cắp tài sản. Khi đi đến cửa hàng của anh N V P ở khu Sơn Đông, phường Nam Sơn, quan sát thấy cửa hàng không khóa, bên trong có nhiều đoạn sắt, trong nhà không có ai nên Đồng đã đi vào trộm cắp 02 đoạn sắt và 01 mũi khoan mang ra xe chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh N V T ở khu Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để bán. Trước khi mua thì anh Tin có hỏi nguồn gốc số tài sản thì Đồng trả lời là đồ của Đồng không dùng nữa nên mang bán, anh Tin đồng ý mua và trả cho Đồng 210 nghìn đồng. Đồng nhận tiền và tiếp tục quay lại nhà anh Tin trộm cắp tiếp 01 mũi khoan, 01 búa khoan. Khi Đồng đang mang tài sản ra xe mô tô thì bị quần chúng nhân dân phát hiện, báo cho Công an phường Nam Sơn đến lập biên bản phạm tội quả tang. Tại cơ quan Công an, Đồng đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của Đồng 01 mũi khoan và 01 búa khoan, 01 xe mô tô BKS: 99F4-8969; thu giữ của anh Tin 01 mũi khoan và 01 khớp nối.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã kết luận:
“- 01 búa khoan HD55 (k5) Kaishan đã qua sử dụng tại thời điểm phạm tội có giá trị là 14.437.500 đồng;
- 02 mũi khoan HD55-140, đã qua sử dụng tại thời điểm phạm tội có giá trị là 18.750.000 đồng;
- 01 khớp nối 76+, 76- Trung Quốc, đã qua sử dụng tại thời điểm phạm tội có giá trị là 1.050.000 đồng;
Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 24.237.500 đồng”.
Tại bản cáo trạng số: 113/CT- VKSTPBN ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố C V Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa C V Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và thừa nhận ngày 15/01/2024 bị cáo một mình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Phú, không có đồng phạm khác.
Bị hại là anh N V P vắng mặt tại phiên tòa. Tại các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Phú trình bày: Anh đã nhận lại toàn bộ tài sản do Đồng trộm cắp, anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Anh đề nghị HĐXX xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh N V T trình bày: Do tin tưởng nên anh đã mua lại 02 đoạn sắt, 01 mũi khoan và 01 khớp nối của Đồng. Sau khi biết hành vi trộm cắp tài sản của Đồng bị phát hiện, anh đã giao lại toàn bộ tài sản cho cơ quan Công an. Anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 210 nghìn đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: C V Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ: Điểm g khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt C V Đ từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô thu giữ của Đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận gì.
Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, anh Phú và anh Tin đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, truy tố; tài sản do bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả tiền nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa
bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và những người liên quan trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/01/2024, tại khu Sơn Đông, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, C V Đ đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 búa khoan, 02 mũi khoan, 01 khớp nối trị giá 24.237.000 đồng của anh N V P; khi Đồng đang mang tài sản đã trộm cắp được đi tiêu thụ thì bị phát hiện, bắt giữ. Đồng phạm tội mới khi chưa được xóa án tích, do bản án năm 2022 đã xác định hành vi của Đồng thuộc trường hợp tái phạm nên lần phạm tội này của Đồng thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Do đó đã đủ cơ sở xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố C V Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3] Hành vi phạm tội
của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, lo ngại trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo biết rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã lợi dụng sơ hở của người dân để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
[4] Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng hai lần bị Tòa án xét xử cùng về tội trộm cắp tài sản, không có công ăn việc làm, thường xuyên đi lang thang, không chịu tu chí làm ăn.
- Về tình tiết tăng nặng: Do tình tiết tái phạm nguy hiểm đã được xác định là tình tiết định khung nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Về quyết định hình phạt: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tài sản do bị cáo trộm cắp có giá trị khá cao nên cần xử nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm. Tuy nhiên khi lượng hình HĐXX cũng cần xem xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật, và vẫn có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm và thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6]Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản do bị cáo trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả tiền nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[7]Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ tài sản do bị cáo trộm cắp đã được Công an thành phố Bắc Ninh trả lại cho chủ sở hữu là anh N V P là phù hợp;
Đối với chiếc xe mô tô và đăng ký xe thu giữ của bị cáo. Qua xác minh xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tuyên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với anh N V T là người đã mua tài sản do bị cáo trộm cắp.
Do anh Tin không biết tài sản trên do bị cáo trộm cắp nên không có căn cứ xử lý đối với anh Tin về hành vi tiêu thị tài sản do người khác phạm tội mà có.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo C V Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ:
Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt C V Đ 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.
- Căn cứ:
Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu C V Đ phải hoàn trả số tiền 210.000 đồng của anh N V T.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SKYWAY, màu nâu, BKS: 99F4-8969, số khung 01405198, số máy: 150FMG-01405198, xe không gương, đã cũ; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số 0040202, biển số: 99F4-8969, chủ xe Nguyễn Tiến Bạn.
Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
- Về án phí:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ: Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoan |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
