|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2024/HS - ST Ngày 15 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---***---
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim, bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HS ngày 25/7/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 55/2024/HS-QĐ ngày 07/8/2024 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Nông Phú Q, sinh ngày 20/6/2006; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12.
Con ông: Nông Văn B và bà: Tô Thị L.
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vi Văn T, sinh năm 2004; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12.
Con ông: Nông Văn L1 và bà Vi Thị L2.
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Nông Phú Q:
- Bà Thân Thị Thúy V, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (có mặt)
- Bà Trần Lệ H, Luật sư Công ty L4, Đoàn Luật sư tỉnh B. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Tô Thị L, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. (có mặt)
- Bị hại: Chị Ma Thị Lan H1 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Ma Văn T1, sinh năm 1979; (có mặt)
- Bà Lăng Thị V1, sinh năm 1985; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Ma Văn T1, bà Lăng Thị V1: Anh Ma Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. (có mặt)
- Người tham gia tố tụng khác: Đại diện Đoàn thanh niên xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nông Phú Q, sinh ngày 20/6/2006 và Vi Văn T, sinh năm 2004 cùng trú tại thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn là chú cháu họ, ở cùng thôn với nhau và chơi với nhau từ nhỏ (Q là chú của T). T biết rõ Q không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định vì chưa đủ tuổi.
Khoảng 21 giờ ngày 12/11/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12D1-368.94 (viết tắt là xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94) của T chở theo Q đi từ phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đến phòng trọ của bạn tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang chơi. Tới nơi, Q bảo Toàn cho mượn xe mô tô để đi chơi chỗ khác thì T đồng ý. T đưa xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 cho Q mượn đồng thời bảo Q sáng hôm sau đi xe mô tô đến đón T đi làm. Sau khi mượn xe mô tô của T, Q điều khiển xe mô tô đến quán Karaoke ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang hát Karaoke và uống bia cùng anh Nông Văn D, sinh năm 1996, anh Hà Văn D1, sinh năm 1996 đều ở cùng thôn với Q. Đến khoảng 00 giờ ngày 13/11/2023, nhóm của Q không hát nữa, cùng nhau điều khiển xe mô tô đến tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang ăn đêm và tiếp tục uống rượu cùng nhau. Khoảng 00 giờ 45 phút cùng ngày, Q dừng lại không uống rượu nữa, điều khiển xe mô tô của T về phòng trọ của anh D1 đang thuê trọ tại xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang ngủ. Khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, Quốc thức dậy và một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 đi đón T ở phòng trọ của bạn T tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang như trước đó T yêu cầu. Khoảng 07 giờ cùng ngày, khi Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 đi trên đường gom dân sinh, cạnh đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang, theo hướng Bắc Giang- Bắc Ninh tới ngã 3 đường giao nhau với đường nhánh đi vào quán “Zô Zô”, hai đầu đường có biển báo hiệu đường giao nhau, thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Lúc này, Q không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ, đi lấn sang làn đường của phương tiện đi ngược chiều và thiếu chú ý quan sát nên để phần bên trái đầu xe và sườn bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm vào phần bên trái đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12T1-227.40 do chị Ma Thị Hương L3, sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn điều khiển theo hướng Bắc Ninh- Bắc Giang, tại làn đường của phương tiện đi ngược chiều và trong khu vực đường giao nhau. Sau khi xảy ra va chạm giao thông, hai xe mô tô đổ xuống mặt đường, Q và chị L3 bị ngã xuống mặt đường nhựa; chị L3 nằm bất tỉnh còn Q dắt xe mô tô của Quốc dựng vào rìa đường. Hậu quả, Q bị thương nhẹ chỉ đến Bệnh viện sơ cứu vết thương; chị L3 bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, đến ngày 19/11/2023 thì tử vong; hai xe mô tô bị hư hỏng một phần.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tai nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V (nay là thị xã V) đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn; khám nghiệm tử thi và trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong, cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường gom dân sinh thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang được trải nhựa thẳng, phẳng, rộng 10,55m, được chia thành 04 làn đường xe chạy bởi 03 vạch sơn, vạch sơn đứt màu vàng ở giữa rộng 0,15m, hai vạch sơn nối liền màu trắng ở hai bên mỗi vạch rộng 0,20m. Theo chiều Bắc Giang đi Bắc Ninh từ phải qua trái làn đường lần lượt rộng 1,65m; 3,35m; 3,35m; 1,65m. Bên phải đường có lối rẽ vào đường quán “Zô Zô” rộng 19,70m và có biển báo đường giao nhau với đường không ưu tiên, chiều từ Bắc Ninh đi Bắc Giang có biển báo đường giao nhau cùng cấp. Hai bên đường một bên là đường cao tốc Hà Nội - Bắc Giang, một bên là nhà dân. Phải trái hiện trường theo chiều từ Bắc Giang đi Bắc Ninh, lấy mép đường bên trái nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn, cột Km125 bên trái đường là mốc của hiện trường. Trên mặt đường để lại:
- Vết trượt xước trên mặt đường nhựa phần đường bên trái (ký hiệu số 1), kích thước (0,66 x 0,01)m. Đầu vết trượt xước cách mép đường bên trái 2,57m, cuối vết trượt xước là đầu để chân phía sau bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 và cách mép đường bên trái 2,70m.
- Xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 (ký hiệu số 2), đổ nghiêng bên phải trên mặt đường nhựa phần đường bên trái, đầu chếch hướng đường C-Bắc Giang, đuôi chếch hướng đường quán “Z”, trục bánh trước cách mép đường bên trái 02m, trục bánh sau cách mép đường bên trái 3,05m.
- Bãi dầu loang trên mặt đường nhựa phần đường bên trái (ký hiệu số 3), kích thước (1,20 x 0,54)m, tâm cách mép đường bên trái 4,15m. Khoảng cách từ tâm bãi dầu loang đến tâm bãi máu loang ký hiệu số 4 là 0,70m.
- Bãi máu loang trên mặt đường nhựa phần đường bên trái (ký hiệu số 4), kích thước (0,95 x 0,40)m, tâm cách mép đường bên trái 4,70m.
- Bãi máu loang trên mặt đường nhựa phần đường bên trái (ký hiệu số 5), kích thước (0,50 x 0,35)m, tâm cách mép đường bên trái 0,40m.
- Xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 (ký hiệu số 6) dựng đứng trên mặt đường nhựa phần đường bên trái, trục bánh trước cách mép đường bên trái 01m, trục bánh sau cách mép đường bên trái 1,04m và cách trục bánh sau của xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 là 7,90m.
Khoảng cách 6,70m từ trục bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 đến điểm gần nhất của cột Km125 là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết thúc khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữi 02 xe mô tô nêu trên để phục vụ công tác điều tra.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12D1-368.94 (màu sơn xanh) thể hiện: xe không có gương chiếu hậu. Đầu tay phanh trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách mặt đất 0,96m. Đầu núm tay lái phía trước bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 01m. T3 ốp hãm phanh trước để lại vết tỳ nén cong vênh, kích thước (0,05 x 0,02)m, tâm cách mặt đất 0,20m. Mặt ngoài giảm sóc trước bên phải để lại vết mài sát tỳ nén mòn kim loại, kích thước (0,03 x 0,01)m, tâm cách đất 0,24m. Vành xe trước bên trái để lại vết tỳ nén bẹp méo, kích thước (0,12 x 0,04)m, tâm cách chân van 0,45m. Cánh yếm bên trái để lại vết mài sát rạn nứt, vỡ khuyết, kích thước (0,30 x 0,34)m, tâm cách đất 0,36m. Cần số để lại vết mài sát, tỳ nén cong vênh hướng từ trước về sau. Để chân phía trước bên trái để lại vết tỳ nén cong vênh hướng từ trước về sau. Phần nhựa sườn xe bên phải để lại vết tỳ nén vỡ khuyết, kích thước (0,06 x 0,03)m, tâm cách mặt đất 0,54m.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 12T1-227.40 (màu sơn đen- đỏ) thể hiện: Bát gương chiếu hậu bên trái bật rời khỏi xe. Phần nhựa đầu xe bên phải để lại vết mài sát, kích thước (0,06 x 0,03)m. Đầu núm tay phanh bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01 x 0,01), tâm cách đất 0,96m. Đầu núm tay lái phía trước bên phải để lại vết mài sát mòn cao su, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 01m. Đèn xi nhan phía trước bên trái để lại vết tỳ nén vỡ khuyết, kích thước (0,30 x 0,08)m, tâm cách đất 0,78m. Chắn bún phía trước để lại vết rạn nứt, kích thước (0,25 x 0,08)m. Mặt ngoài giảm sóc trước bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,02 x 0,01)m, tâm cách mặt đất 0,19m. Mặt trước ốc trục bánh trước bên trái để lại vết tỳ nén có bám tạp chất màu đen, kích thước (0,02 x 0,01)m, tâm cách đất 0,25m. Vành xe phía trước mặt bên trái để lại vết tỳ nén cong vênh, kích thước (0,08 x 0,03)m, tâm cách chân van 0,42m. Cánh yếm bên trái vỡ bật rời khỏi xe. Phần nhựa ốp để chân phía trước bên trái để lại vết tỳ nén vỡ khuyết, kích thước (0,30 x 0,15)m, tâm cách đất 0,23m. Để chân phía sau bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,25 x 0,01)m, tâm cách mặt đất 0,40m.
Kết quả khám nghiệm tử thi chị Ma Thị Hương L3 thể hiện: chiều dài tử thi 1,49m. Tử thi đang trong giai đoạn lạnh và cứng xác. Hai mắt khép, sưng nề, bầm tím xung quanh mắt trái. Hai lỗ tai khô, trong miệng có dịch đục. Vùng trán, cung mày trái có diện sây sát, rách da, kích thước (6,3 x 04)cm. Sưng nề vùng trán, thái dương trái, kích thước (14 x 11)cm. Sờ nắn thấy vỡ lún xương thái dương trái. Mu bàn tay phải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (11 x 03)cm. Mu bàn tay trái có diện sây sát da, sưng nề, kích thước (07 x 3,5)cm. Mặt trước gối phải có diện sây sát da đã đóng vảy, kích thước (08 x 05)cm. Mặt trước gối trái có nhiều vết sây sát da đã đóng vảy, kích thước (9,3 x 4,5)cm. Chọc hút bằng bơm kim tiêm mạch cảnh thu 05ml máu không đông. Chọc hút khoang ổ bụng kiểm tra không thấy máu.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 2633/KLGĐTT-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Ma Thị Hương L3 do đa chấn thương không hồi phục: Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt. Các tổn thương sưng nề, rách, sây sát da đã đóng vảy được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Trong đó, tổn thương vỡ xương hộp sọ, xương hàm mặt, chảy máu nội sọ được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp là nguyên nhân tử vong của Ma Thị Hương L3. Thời gian chết của Ma Thị Hương L3 đến thời điểm khám nghiệm tử thi trên 12 tiếng (tử thi đang trong giai đoạn cứng xác).
Tại Bản kết luận giám định số 2623/KLGĐ-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K- Công an tỉnh B kết luận:
- “1. Dấu vết chùn cong, trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 368.94, có chiều hướng từ trước ra sau gồm: lốp và vành bánh trước, cụm phanh bánh trước, đầu ốc trục bánh trước và đầu dưới giảm sóc trước, (ảnh số 8, 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen tại đầu ốc bên trái trục bánh trước và đầu dưới giảm sóc trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 1211 - 227.40, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 13 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết chùn cong, trượt xước cao su, kim loại, bám dính chát màu đen (dạng cao su) tại cần số tiến và để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 368.94, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 6 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước cao su, kim loại tại bên trái lốp và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 12T1 - 227.40, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 14 bản ảnh khám phương tiện).
- 2. Dầu vết trượt xước mặt đường ký hiệu số 1 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 12T1 - 227.40 đổ nghiêng phải rê, trượt trên mặt đường tạo nên.
- 3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biến kiểm soát 12T1 - 227.40 và xe mô tô biển kiểm soát 12D1 - 368.94 trên mặt đường gom dân sinh, tại vị trí dấu vết dầu loang, bắn ký hiệu số 3, thuộc chiều chuyển động bên trái theo hướng thành phố B đi thành phố B.
- 4. Chiều hướng va chạm: xác định tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện trong tư thế chuyển động đứng, ngược chiều nhau.
- 5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V, kết luận: Phần trị giá tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 là 1.980.000 đồng, xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 là 4.500.000 đồng.
Tại phiếu đo nồng độ cồn và biên bản kiểm tra về việc sử dụng chất ma túy ngày 13/11/2023 của Công an huyện V (nay là thị xã V) đối với Nông Phú Q thể hiện: Nồng độ cồn trong hơi thở của Nông Phú Q là 0,477mg/L khí thở, trong nước tiểu không có chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 là tài sản của chị Ma Thị Hương L3, xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 là tài sản của bị cáo Vi Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã V đã nhập kho vật chứng hai xe mô tô để xử lý theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Q và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng. Hiện gia đình bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, trong đó 50.000.000 đồng là tiền chi phí thuê xe đi lại, viện phí, thuốc điều trị cho chị L3 trong quá trình nằm viện, tiền mất thu nhập trong quá trình người thân chăm sóc chị L3, tiền lo ma cho chị L3 và 50.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần. Bị cáo T không yêu cầu bị cáo Q bồi thường thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 15/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nông Phú Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vi Văn T “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Phú Q 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 cho anh Ma Văn T2; Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 cho anh Vi Văn T nhưng giữ lại chiếc xe để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiên Dân sự: áp dụng điều 48, điều 584, điều 591 Bộn luật Dân sự Buộc bị cáo Nông Phú Q phải bồi thường 100.000.000 đồng cho đại diện bị hại là ông Ma Văn T1 và bà Lăng Thị V1.
Về án phí và khấu trừ thu nhập: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nông Phú Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn T.
Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bà Thân Thị Thúy V bào chữa cho bị cáo Q có tranh luận đề nghị hội đồng xét xử xử cho bị cáo Quốc b với mức đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Đại diện của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về sự vắng mặt của Luật sư Trần Lệ H2 và Đại diện Đoàn thanh niên xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhưng tại phiên toà bị cáo Q còn có bà Thân Thị Thúy V là người bào chữa cho bị cáo; bị cáo Q có ý kiến đề nghị tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3]. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người liên qua trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở để xác định: Tối ngày 12/11/2023, tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, Vi Văn T biết rõ Nông Phú Q không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng T vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 12D1-368.94 cho Quốc mượn để điều khiển tham gia giao thông và yêu cầu Q hôm sau đi xe đến đón T (vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ). Sau khi mượn được xe mô tô của T, Q điều khiển xe mô tô đi chơi với bạn và sử dụng rượu, bia. Khoảng 07 giờ ngày 13/11/2023, mặc dù Q đã sử dụng rượu, bia (nồng độ cồn 0,477mg/L khí thở), không có giấy phép lái xe mô tô nhưng vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 đi đón T như T yêu cầu. Khi Q điều khiển xe trên đường gom dân sinh theo hướng Bắc Giang- Bắc Ninh tới ngã 3 đường giao nhau với đường nhánh đi vào quán “Zô Zô”, hai đầu đường có biển báo hiệu đường giao nhau thuộc địa phận tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Lúc này, Q không chấp hành báo hiệu đường bộ, không làm chủ tốc độ, thiếu chú ý quan sát, đi lấn sang làn đường của phương tiện đi ngược chiều (vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật giao thông đường bộ) nên để phần bên trái đầu xe và sườn bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm vào phần bên trái đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 12T1-227.40 do chị Ma Thị Hương L3 điều khiển đi ngược chiều (hướng Bắc Ninh- Bắc Giang), tại làn đường của phương tiện đi ngược chiều và trong khu vực đường giao nhau. Hậu quả, Q bị thương tích nhẹ, chị L3 tử vong, hai xe mô tô bị hư hỏng một phần với tổng trị giá thiệt hại 6.480.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nông Phú Q đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hành vi của bị cáo Vi Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Nông Phú Q theo tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vi Văn T theo tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, cần phải xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Q và xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo T mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nông Phú Q đã cùng gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng nên được hưởng thêm tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q nên bị cáo được tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vi Văn T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Q khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Phú Q và Vi Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Q và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 150.000.000 đồng. Nay gia đình bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường thêm số tiền thiệt hại về vật chất và tinh thần là 100.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo Q đồng ý bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền là 100.000.000 đồng. Việc liên đới bồi thường giữa hai bị cáo do hai bị cáo tự thoả thuận thống nhất với nhau, không yêu cầu toà án đặt ra xem xét giải quyết.
[8]. Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 là tài sản của chị Ma Thị Hương L3, xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 là tài sản của bị cáo Vi Văn T. Cần trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 cho đại diện của bị hại; cần trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 cho bị cáo T.
[9]. Về án phí và khấu trừ thu nhập: Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại trên số tiền 100.000.000đ. Bị cáo T do gia đình thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91; Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nông Phú Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12T1-227.40 cho anh Ma Văn T2; Trả lại xe mô tô biển kiểm soát 12D1-368.94 cho anh Vi Văn T.
- Về trách nhiên Dân sự, áp dụng điều 48, điều 584, điều 591 Bộn luật Dân sự Buộc bị cáo Nông Phú Q phải bồi thường 100.000.000 đồng cho đại diện bị hại là ông Ma Văn T1 và bà Lăng Thị V1.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nông Phú Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 172/2024/HS - ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 172/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao thông
