Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 172/2024/DS-ST

Ngày: 14/8/2024

“V/v đòi đất bị lấn, chiếm”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Tuấn Anh
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 692/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Đòi đất bị lấn chiếm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa:

* Nguyên đơn: Ông Phùng Quang S – Sinh năm: 1964

Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Văn Thị Mỹ H – Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Số B Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phùng Quang S: Bà Lê Thị T – Luật sư Công ty L.

Địa chỉ: C N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Bà Phạm Thị N – Sinh năm: 1959

Địa chỉ: Số F đường L, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 – Sinh năm: 1967

Địa chỉ: Số A đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Văn Thị Mỹ H – Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Số B Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)

  • Ông Thi N1 – Sinh năm: 1958

Địa chỉ: Số F đường L, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

  • Bà Thi Thị Thu H1 – Sinh năm: 1988.

Địa chỉ: Số C T, phường H, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt)

  • Ông Chu Tiến D – Sinh năm: 1969

Địa chỉ: Số C, tỉnh lộ 5, thôn C, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt và có Đơn xin xét xử vắng mặt).

  • Bà Trần Lưu Cẩm H2 – Sinh năm: 1971

Địa chỉ: Số C, tỉnh lộ 5, thôn C, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Toà án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phùng Quang S là bà Văn Thị Mỹ H trình bày:

Theo nội dung Đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023: Năm 2021 gia đình ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 có nhận chuyển nhượng 01 thửa đất của ông Chu Tiến D có diện tích 1002,2m² (20m chiều ngang X 50m chiều dài) địa chỉ thửa đất tại thôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vị trí thửa đất cụ thể như sau: Phía Đông giáp đất nhà ông Chu Tiến D; Phía Tây giáp đất nhà bà Phạm Thị N; Phía Nam giáp đường đi; Phía Bắc giáp đất nhà ông Chu Tiến D. Việc chuyển nhượng đã hoàn tất thủ tục sang tên, vợ chồng ông S, bà T1 đã thanh toán đủ tiền và ông D đã giao đất cho vợ chồng ông S, bà T1. Ngày 04/3/2021 vợ chồng ông S, bà T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 243299 thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78, diện tích 1002,2m² (trong đó có 140m² đất ở và 862,2m² đất trồng cây hằng năm) mang tên Phùng Quang S và bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Sau khi mua đất vợ chồng ông S, bà T1 xuống làm nhà ở nhưng bà Phạm Thị N (là người có đất giáp với nhà ông S, bà T1) có hành vi cản trở không cho vợ chồng ông S, bà T1 làm nhà ở và còn cho rằng vợ chồng ông S, bà T1 lấn chiếm đất của nhà bà N (phần tiếp giáp với nhà bà N). Qua xem xét trích đo chỉnh lý địa chính số 1-2021 của xã Cư ÊBur ngày 11/5/2021 vợ chồng ông S, bà T1 phát hiện ranh giới đất phía Tây đã bị gia đình bà Phạm Thị N tự ý lấn chiếm đất với diện tích khoảng 50m² ( vị trí phần tiếp giáp đất bà N). Khi biết được, gia đình ông S, bà T1 đã yêu cầu gia đình bà Phạm Thị N trả lại diện tích đất trên cho gia đình

ông S, bà T1, nhưng bà N không đồng ý. Nên ông S đã làm đơn kiến nghị gửi UBND xã C yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai. Ngày 26/7/2023 UBND xã C đã gọi hai gia đình lên hòa giải nhưng không thành.

Do vậy, ông S làm đơn khởi kiện bà Phạm Thị N, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết: Buộc bà N trả lại phần diện tích đất 50m² đã lấn chiếm của gia đình ông S ở Thôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình giải quyết vụ án, sau khi có kết quả đo vẽ kỹ thuật của Công ty TNHH Đ thì nguyên đơn xác định lại nội dung khởi kiện như sau: Nay ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 yêu cầu bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 36m² như Trích đo hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH Đ cho ông Phùng Quang S, bà Phạm Thị N, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 66 dài 0,33m; Phía Nam giáp đường dài 1,36m; Phía Đông giáp thửa 291 dài 40,15m; Phía Tây giáp thửa 66 dài 49,75m. Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ kỹ thuật và thẩm định giá thì ông S, bà T1 đồng ý và không có ý kiến gì. Đối với các tài sản trên diện tích đất lấn chiếm, ông S, bà T1 đồng ý nhận các tài sản này và tự nguyện hỗ trợ trị giá các tài sản này cho bà N, ông N1.

* Quá trình làm việc tại Toà án và tại phiên toà, bị đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Vào ngày 29/7/1987, ông Thi N1 là chồng của bà N có làm đơn xin đất thổ cư và làm kinh tế phụ gia đình kính trình lên Ủy ban nhân dân xã C và được cấp diện tích đất là 2.500m². Ngày 14/12/1996 Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 118116 mang tên hộ Phạm Thị N đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 23, diện tích 2.780m², địa chỉ: Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 05/03/2020 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 373457 mang tên hộ bà Phạm Thị N đối với thửa đất số 66 (cũ 77), tờ bản đồ số 78 (cũ 23), diện tích: 2.758,3m². Thửa đất số 66 có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa số 22 của gia đình bà N; Phía Nam giáp đường liên thôn; Phía Tây giáp thửa 26 của ông Nguyễn Quý D1, giáp thửa 11 của Ma Teng; Phía Đông giáp thửa 291 của ông Phùng Quang S, giáp thửa 290 của ông Chu Tiến D. Sau khi được cấp đất vào năm 1987, bà N có mua thêm lô đất giáp ranh với mục đích canh tác làm nông, đất có diện tích là 1.840m² là thửa đất số 76, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do UBND Thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 14/12/1996. Hiện nay bà N đã đổi sang bìa mới cụ thể là thửa đất số 22 (cũ 76), tờ bản đồ số 78 (cũ 23), diện tích 1.575,2m², địa chỉ: Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 373906 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 25/02/2020 mang tên hộ bà Phạm Thị N. Đất có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa đất số 226; Phía Nam giáp đất số 66 (cũ 77), tờ bản đồ số 78 (cũ 33) của gia đình bà N; Phía Đông giáp thửa đất của ông Chu Tiến D; Phía Tây giáp thửa đất số 11. Bà N

xác định trong quá trình cấp bìa mới do không để ý tới diện tích bị cấp sai nên có sự chênh lệch diện tích giữa bìa mới và bìa cũ. Từ khi được cấp đất và mua đất đến nay gia đình bà N vẫn sống trên diện tích đất này và có ranh giới là hàng rào cây duối hiện nay đã bị ủi đi thay thế bằng cọc bê tông và bờ kè bằng đá xây vào năm 2017 do chủ đất cũ của thửa đất số 207 đóng cọc xây dựng. Bà N xác định tổng diện tích đất hiện nay của vợ chồng bà N phải là diện tích như trong bìa đỏ cũ mới là đúng. Vợ chồng bà N đã gửi đơn khiếu nại về việc cấp sai diện tích trong bìa đỏ mới nhưng chưa được giải quyết. Vào năm 2021, ông Phùng Quang S có mua 01 thửa đất của ông Chu Tiến D có diện tích 1002,2m² (20m chiều ngang x 50m chiều dài) địa chỉ thửa đất: Thôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đất trống, giáp ranh với thửa đất số 66 (cũ 77) của bà N.

Nay ông Phùng Quang S khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà N trả lại phần diện tích đất 36m² đã lấn chiếm của gia đình ông Phùng Quang S ở địa chỉ Thôn D, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78 thì ý kiến của bà N là: Gia đình bà N không lấn chiếm đất của ông S. Đối với thửa đất số 66, phía Tây giáp với thửa 26 của gia đình ông Nguyễn Quý D1, ranh giới đất với thửa đất 66 của gia đình bà N là hàng rào xây gạch cố định được xây từ năm 2010 (ông D1 xây hàng rào gạch bao quanh diện tích đất của ông D1) và các bên tôn trọng ranh giới đất, sử dụng từ đó đến nay, không có tranh chấp. Phía Đông giáp với thửa đất số 291 của ông S, ranh giới là hàng rào lưới B40, có cọc bê tông đường kính khoảng 15cm. Năm 2017, ông C xây dựng bờ kè bằng đá từ cuối đất của họ chạy dọc theo đường giáp ranh giới đất thửa 22, 66 của bà N khoảng 40m (chưa tới phần đất sau này ông S nhận chuyển nhượng). Giữa thửa 66 và 291 ông C đóng cọc bê tông. Thời điểm đó vợ chồng bà N phải đi Hà Nam do mẹ bà N mất nên không có ở nhà. Hơn 01 tháng sau quay trở về nhà bà N có làm đơn kiến nghị ra Ủy ban nhưng không xác định được chủ đất là ai nên từ đó đến nay vẫn chưa giải quyết việc lấn chiếm đất của gia đình bà N. Vợ chồng bà N giăng lưới B40 chạy dọc các cọc bê tông này để tránh bị trộm gà, chó và sử dụng từ năm 2017 cho đến nay. Vì muốn giữ nguyên hiện trạng thể hiện đất của vợ chồng bà N bị thửa 291 của ông S lấn qua nên vợ chồng bà N mới giữ nguyên các cọc bê tông này và giăng lưới B40 để sử dụng quản lý tài sản, tránh trộm cắp. Do đó bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện ông Phùng Quang S. Các tài sản trên diện tích đất 36m² gồm: móng đá hộc, tường gạch taplo diện tích 6m², cao 5m; nền xi măng diện tích 48m²; lưới B40 diện tích 50m²; 02 cây mít; 02 cây me; 01 cây mít thái; 01 cây na thái là của bà N, ông N1 trồng, xây dựng. Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ kỹ thuật thửa đất và kết quả thẩm định giá thì bà N đồng ý và không có ý kiến gì.

* Quá trình làm việc tại Toà án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Thi N1 trình bày:

Ông N1 là chồng của bà Phạm Thị N. Ông N1 đồng ý thống nhất với lời trình bày của bà N và ông N1 không bổ sung thêm ý kiến gì khác. Đối với kết quả xem

xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ kỹ thuật thửa đất và kết quả thẩm định giá thì ông N1 đồng ý và không có ý kiến gì.

* Quá trình làm việc tại Toà án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chu Tiến D trình bày:

Vào năm 2020 ông D có nhận chuyển nhượng thửa đất số 289 (Hợp từ thửa 221, 207, 208, tờ bản đồ số 78), địa chỉ thôn C, xã C, thành phố B diện tích 4.659m² từ ông Trần C1. Đến năm 2021, ông D chuyển nhượng lại một phần thửa đất diện tích khoảng 1.000m², chiếm mặt đường liên thôn 20m ngang, dài chạy dọc 50m cho ông Phùng Quang S. Ngày 04/3/2021 vợ chồng ông S, bà T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 243299 thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78, diện tích 1002,2m² (trong đó có 140m² đất ở và 862,2m² đất trồng cây hằng năm) mang tên Phùng Quang S và bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Lúc ông D mua đất của ông Trần C1 đã làm hàng rào kiên cố và ông D đã bàn giao đất cho ông S theo ranh giới đất đã làm trước đó. Ranh giới giữa đất của ông D và ông N1, bà N là cọc bê tông, lưới B40 chạy dọc hết đất. Khi vợ chồng ông S sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp với vợ chồng bà N, ông N1. Ông D có thuê công ty đo đạc mới phát hiện là đất của ông D còn nằm qua cả cả ranh giới đất hiện có bây giờ. Theo kết quả đo đạc thì phía mặt đường đi của thôn D, xã Cư ÊBur đất của ông D (nay là đất của ông S) phía bên mặt giáp đất ông N1, bà N còn bị thiếu 78cm, phía sau thiếu 60cm. Ông D cũng đã báo với Ủy ban xã C, mong muốn các bên giải quyết tình cảm, thỏa thuận với nhau nhưng không thành.

Nay ông Phùng Quang S khởi kiện với nội dung như trên thì ý kiến của ông D như sau: Một là, Ông D đề nghị ông N1, bà N lấy mốc giới bên phía Tây thửa 66 của ông N1, bà N kéo theo mặt đường thôn theo bìa đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại) đủ đất của ông N1, bà N thì phần còn lại là của ông D. Nếu đất của ông S bị thiếu so với bìa đỏ thì ông D tự có trách nhiệm bù cho ông S. Hai là, lấy mốc giới Đông thửa 290 của ông D kéo theo mặt đường thôn theo bìa đỏ đủ đất của ông D, còn lại bao nhiêu thì của bà N, ông N1. Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá của Công ty TNHH T2 giá và Đo đạc địa chính BTA Việt Nam thì ông D đồng ý và không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu của ông S thì ý kiến của ông D là giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc T1 là bà Văn Thị Mỹ H trình bày:

T1 là vợ ông Phùng Quang S, bà T1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Quang S và đồng ý với phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông S và không bổ sung thêm ý kiến gì khác. Đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ kỹ thuật thửa đất và thẩm định giá thì bà T1 đồng ý và không có ý kiến gì.

* Quá trình làm việc tại Tòa án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thi Thị Thu H1 trình bày:

H1 là con gái ruột của bà Phạm Thị N và ông Thi N1. Bà H1 không có quan hệ gì với ông Phùng Quang S. Đối với thửa đất số 77 tờ bản đồ 23 tại C, thành phố B do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 14/12/1996. Hiện nay đã đổi sang bìa mới cụ thể là thửa đất số 66 (cũ 77) tờ bản đồ số 78 (cũ 23), diện tích 2.758,3m², tại xã C, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CT 373457 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 05/03/2020 mang tên hộ bà Phạm Thị N. Đây là tài sản của bố mẹ bà H1. Tài sản do bố mẹ bà H1 tạo lập, bà H1 còn nhỏ đi học nên không có công sức tạo lập, duy trì tài sản nói trên.

Nay ông Phùng Quang S khởi kiện bà Phạm Thị N tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thì bà H1 không có ý kiến gì cũng không có yêu cầu gì. Vì đây là tài sản của bố mẹ bà H1. Bà H1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định từ Điều 239 đến Điều 263 của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanđã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 175, Điều 176Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 168, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2018; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Quang S. Buộc bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải tháo hàng rào lưới B40, cọc bê tông và trả lại cho ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 diện tích đất 36m². Buộc ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải thanh toán giá trị các tài sản trên diện tích đất 36m² cho bà Phạm Thị N, ông Thi N1 có tổng trị giá là 15.520.100 đồng.

Về án phí, chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phùng Quang S khởi kiện bà Phạm Thị N; địa chỉ: Số F đường L, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk về việc “Đòi đất bị lấn, chiếm”, diện tích đất bị lấn chiếm thuộc xã C, thành phố B tỉnh Đắk Lắk, đây là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn ông Phùng Quang S yêu cầu Toà án buộc bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 36m², có tứ cận Phía Bắc giáp thửa 66 dài 0,33m; Phía Nam giáp đường dài 1,36m; Phía Đông giáp thửa 291 dài 40,15m; Phía Tây giáp thửa 66 dài 49,75m thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78, địa chỉ xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 243299 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên ông Phùng Quang S và bà Nguyễn Thị Ngọc T1.

[2.2] Xét nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất:

Đối với thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78, diện tích 1.002,2m² tại xã C, thành phố B: Ông Phùng Quang S nhận chuyển nhượng từ ông Chu Tiến D. Ngày 04/3/2021, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 243299 mang tên ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Đất có tứ cận phía Nam giáp đường, B giáp thửa 291, Đông giáp thửa 290, Tây giáp thửa 66.

Đối với thửa đất số 66, tờ bản đồ số 78, diện tích 2.758,3m² tại xã C, thành phố B: Đất có nguồn gốc do Hợp tác xã giao từ năm 1987. Ngày 14/12/1996 Ủy ban nhân dân thành phố B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K118116 mang tên hộ Phạm Thị N đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 23, diện tích 2.780m², đất tọa lạc tại xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo Biên bản về việc kiểm tra, xác minh hiện trạng, ranh giới thửa đất ngày 06/02/2020 và Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đề ngày 25/02/2020 của bà Phạm Thị N thì thửa đất số 66 (cũ 77) có diện tích giảm 21,7m² đất trồng cây hàng năm khác so với Giấy chứng nhận đã cấp, hình thể thửa đất có thay đổi do bản đồ cũ đo đạc không chính xác; Ranh giới sử dụng đất không thay đổi, ranh giới sử dụng ổn định không tranh chấp; nguyên nhân diện tích

giảm là do sai số giữa hai lần đo đạc. Ngày 05/3/2020, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 373457 mang tên hộ bà Phạm Thị N đối với thửa đất số 66 (cũ 77), tờ bản đồ số 78 (cũ 23), diện tích 2.758,3m². Đất có tứ cận Nam giáp đường, B giáp thửa 66, Đông giáp thửa 291, Tây giáp thửa 26.

Hiện nay ranh giới giữa thửa đất số 291 của ông S và thửa đất số 66 của ông N1, bà N là cọc bê tông, lưới B40 chạy dọc giữa hai thửa đất. Ông D xác định khi ông D nhận chuyển nhượng đất từ ông Trần C1 thì ông C1 đã cắm cọc bê tông phân định ranh giới đất giữa ông C1 và gia đình bà N.

Vợ chồng bà N, ông N1 xác định lưới B40 là do bà N, ông N1 giăng dọc theo các cọc bê tông từ năm 2017 và các bên sử dụng đất theo ranh giới này từ đó cho đến nay.

[2.3] Theo kết quả trích đo hiện trạng thửa đất, ranh lồng ghép tham khảo của Công ty TNHH Đ thì hiện trạng sử dụng của thửa đất số 66 có diện tích là 2.713,8m², hiện trạng sử dụng của thửa đất số 291 có diện tích là 929,9m². Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 66 có diện tích là 2.758,3m², thửa đất số 291 có diện tích là 1.002,2m².

Tuy nhiên, đối với thửa đất số 66, còn một phần diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại nằm ngoài hàng rào hiện trạng sử dụng đất là 76,3m² ở vị trí phía Nam thửa 66 và 11m² nằm ở phía Tây thửa đất số 66 theo ranh lồng ghép tham khảo. Ngoài ra còn có một phần diện tích đất 5,2m² nằm ở phía Đông của thửa 66 theo như sơ đồ lồng ghép là bà N, ông N1 sử dụng vượt ngoài ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cộng diện tích đất hiện trạng sử dụng với các diện tích đất trên thì diện tích sử dụng của thửa 66 là 2.795,9m², lớn hơn diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 37,6m².

Đối với thửa đất số 291, có một phần diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại nằm ngoài hiện trạng sử dụng đất là 36m² ở vị trí phía Nam thửa 291. Cộng diện tích đất hiện trạng sử dụng với diện tích đất trên thì diện tích sử dụng của thửa 291 là 965,6m², nhỏ hơn diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 36,6m².

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 66 có cạnh phía Nam là 37,98m, tuy nhiên theo hiện trạng sử dụng hiện nay là 39,33m, dài hơn 1,35m. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 291 có cạnh phía Nam dài 20m, tuy nhiên theo hiện trạng sử dụng hiện nay là 18,67m, cộng thêm 1,35m dư của thửa 66 sẽ là 20,02m là phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 291. Việc chênh lệch 0,02m là sai số cho phép trong việc đo đạc cũng như trong quá trình sử dụng đất.

Như vậy mặc dù, ranh giới cọc bê tông do ông Trần C1 xây dựng và bàn giao cho ông Chu Tiến D, sau đó ông D bàn giao cho ông S và vợ chồng bà N, ông N1

giăng lưới B40 theo hàng cọc bê tông này để sử dụng từ năm 2017 cho đến nay. Tuy nhiên, việc các bên sử dụng không đúng ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thực tế và do các bên không có đo đạc cụ thể nên không biết việc sử dụng sai ranh giới này. Nay xảy ra tranh chấp và có tiến hành đo đạc của tổ chức có chuyên môn mới biết việc sử dụng lấn chiếm, không đúng ranh giới theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Chứng thư thẩm định giá số 117/2024/CT-BTA ngày 13/6/2024 của Công ty TNHH T2 diện tích đất tranh chấp 36m² có giá 237.672.000 đồng. Các tài sản trên đất: Công trình xây dựng móng đá hộc, tường gạch taplo diện tích 6m², cao 5m giá trị còn lại 1.783.800 đồng, nền xi măng diện tích 48m² giá trị còn lại 1.881.000 đồng, hàng rào 12 cọc bê tông vuông 12cm, cao 1,5m, lưới B40 diện tích 50m² giá trị còn lại 5.875.000 đồng; 02 cây mít trị giá 2.374.000 đồng; 02 cây me trị giá 1.045.400 đồng; 01 cây mít thái trị giá 1.676.000 đồng; 01 cây na thái trị giá 884.900 đồng; Tổng giá trị tài sản trên đất là 15.520.100 đồng. Các tài sản trên đất nói trên nguyên đơn ông Phùng Quang S thừa nhận không phải do ông tạo lập, toàn bộ các tài sản trên đất này là do vợ chồng bà N, ông N1 tạo lập, ông S không có tranh chấp đối với các tài sản trên đất này và ông S, bà T1 đồng ý bồi thường trị giá các tài sản trên đất cho vợ chồng ông N1, bà N.

Từ các căn cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Quang S, buộc bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải trả lại cho ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 diện tích đất 36m² có tứ cận Phía Bắc giáp thửa 66 dài 0,33m; Phía Nam giáp đường dài 1,36m; Phía Đông giáp thửa 291 dài 40,15m; Phía Tây giáp thửa 66 dài 49,75m thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 78, địa chỉ xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 243299 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên ông Phùng Quang S và bà Nguyễn Thị Ngọc T1. Và buộc ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 phải thanh toán giá trị các tài sản trên diện tích đất 36m² cho bà Phạm Thị N, ông Thi N1 gồm: móng đá hộc, tường gạch taplo diện tích 6m², cao 5m; nền xi măng diện tích 48m²; hàng rào 12 cọc bê tông vuông 12cm, cao 1,5m, lưới B40 diện tích 50m²; 02 cây mít; 02 cây me; 01 cây mít thái; 01 cây na thái; có tổng trị giá là 15.520.100 đồng.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất tranh chấp và chi phí thẩm định giá: Do yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Quang S được chấp nhận nên bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, chi phí thẩm định giá là 6.300.000 đồng, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 5.712.000đồng. Ông Phùng Quang S được nhận lại các khoản tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, tạm ứng chi phí thẩm định giá là 6.300.000 đồng, tạm ứng chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 5.712.000đồng sau khi thu được của bà Phạm Thị N, ông Thi N1. Nguyên đơn ông

Phùng Quang S tự nguyện chịu 800.000 đồng chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (Đã thu và chi phí xong).

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn ông Phùng Quang S được chấp nhận nên bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên bà Phạm Thị N, ông Thi N1 là người cao tuổi và có Đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn ông Phùng Quang S phải chịu 776.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0004264 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/11/2023, ông Phùng Quang S được nhận 1.724.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 220, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ Điều 175, Điều 176 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ Điều 166, Điều 168, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2018;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Quang S.

Buộc bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải trả cho ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 diện tích đất 36m², có tứ cận Phía Bắc giáp thửa 66 dài 0,33m; Phía Nam giáp đường dài 1,36m; Phía Đông giáp thửa 291 dài 40,15m; Phía Tây giáp thửa 66 dài 49,75m, đất tọa lạc tại xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ông Phùng Quang S, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 được quyền sử dụng, sở hữu các tài sản trên đất gồm: móng đá hộc, tường gạch taplo diện tích 6m², cao 5m; nền xi măng diện tích 48m²; hàng rào 12 cọc bê tông vuông 12cm, cao 1,5m, lưới B40 diện tích 50m²; 02 cây mít; 02 cây me; 01 cây mít thái; 01 cây na thái và ông S, bà N tự nguyện thanh toán 15.520.100 đồng là giá trị các tài sản trên cho bà Phạm Thị N, ông Thi N1.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất và thẩm định giá: Bà Phạm Thị N, ông Thi N1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, chi phí thẩm định giá là 6.300.000 đồng, chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 5.712.000đồng.

Ông Phùng Quang S được nhận lại các khoản tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, tạm ứng chi phí thẩm định giá là 6.300.000 đồng, tạm ứng chi phí đo vẽ kỹ thuật thửa đất là 5.712.000 đồng sau khi thu được của bà Phạm Thị N, ông Thi N1.

Ông Phùng Quang S tự nguyện chịu 800.000 đồng chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B (Đã thu và chi phí xong).

Về án phí: Bà Phạm Thị N, ông Thi N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm do bà N, ông N1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.

Nguyên đơn ông Phùng Quang S phải chịu 776.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0004264 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột ngày 03/11/2023, ông Phùng Quang S được nhận 1.724.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn lại.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk ;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP.BMT;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về đòi đất bị lấn, chiếm

  • Số bản án: 172/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đòi đất bị lấn, chiếm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÒI ĐẤT BỊ LẤN CHIẾM
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger