TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS-PT
Ngày: 12-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Linh và ông Nguyễn Thuận Lợi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai trực tuyến xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 266/2024/QĐXXPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024:
Các bị cáo kháng cáo:
- Trần Văn K, sinh năm 1998 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Trần Văn A, sinh năm 1974 và bà Trần Thị B, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 13/5/2024 cho đến nay.
- Nguyễn Văn V, sinh năm 2002 tại huyện A, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 15/5/2024 cho đến nay.
2
(Ngoài ra trong vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 30/11/2023, lực lượng Công an xã P vào kiểm tra hành chính tại nhà Võ Văn Hữu N, thu giữ 01 bọc nilon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy và nhiều tang vật có liên quan và các đối tượng N, V, G, D.
Quá trình điều tra, N, V, G và D khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 29/11/2023, Trần Văn K, Nguyễn Văn V đến nhà Võ Văn Hữu N (ngụ ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang) rủ nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng, thì N đồng ý. N gọi điện cho Lê Văn A1 (cùng ngụ ấp P) hỏi mua ma túy đá, A1 đồng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận tại nhà A1. N lấy xe mô tô 67H1 – 535.07 của V đến gặp A1 để mua ma túy, xong đem về nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cùng K, V, Đỗ Văn Đ – sinh ngày 13/4/2007. Trong lúc sử dụng, N gọi điện rủ Nguyễn Hữu T – sinh ngày 23/7/2006 đến sử dụng ma túy chung, còn K kêu Đ đi rước Huỳnh Công T1 sinh năm 2005 đến nhà N chơi nhưng không nói là để sử dụng ma túy cùng. T đến nhà N sử dụng ma túy, thì Võ Duy T2 – sinh ngày 08/4/2007 nhắn tin hỏi T đang ở đâu, T trả lời đang ở nhà N, sau đó Tân tự đi đến thấy N, K, V, T đang sử dụng ma túy nên vào sử dụng cùng. Riêng, Đ sau khi rước T1 đưa đến nhà N xong thì Đ điều khiển xe về nhà, T1 vào sử dụng ma túy cùng N, K, V, T, T2.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, K hỏi mượn xe mô tô 67H1 – 535.07 của V đi mua thêm 300.000 đồng ma túy đá (K tự ý đi mua, không thỏa thuận trước hay hùn tiền với ai) của người thanh niên tên Linh L (không rõ họ, địa chỉ), xong đem về sử dụng cùng N, V, T, T2, T1 được khoảng 02 dòng, thì K kêu T1 đi mua nước về uống. Cùng lúc này T cũng đi về nhà, còn Đ tiếp tục đến để sử ma túy.
Tạo điều khiển xe mô tô 67H1 – 535.07 đi mua nước, thì gặp Lê Hoàng G và Lê Thanh D – sinh ngày 09/4/2008, lúc này T1 rủ G và D đến nhà N để sử dụng ma túy, thì cả 02 đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô chở G và D đến nhà N, xong T1 đi vào trước gặp N xin cho G và D vào sử dụng ma túy cùng, được N đồng ý. Lúc này, K kêu N đổ thêm ma túy (bọc ma túy do K mua đến) vào nỏ cho G và D cùng sử dụng, đổ xong N hàn bọc ma túy lại (mục đích hàn để sau này sử dụng tiếp) và cất lại. Cả nhóm tiếp tục sử dụng ma túy, đến rạng sáng ngày 30/11/2023 thì K, T1, T2, Đ đi về trước. Còn lại N, V, G và D thì ngủ tại nhà N. Đến khoảng 08 giờ ngày 30/11/2023, K cùng người thanh niên tên Linh L1 tiếp tục đến nhà N sử dụng ma túy do L2 mang theo đến hết, xong đi về.
3
Tại Kết luận giám định số 228 ngày 02/12/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 1,0300 gam. (Bút lục số: 23)
Cáo trạng số 46/CT-VKSAP ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố truy tố Võ Văn Hữu N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Văn K và Nguyễn Văn V cùng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn Hữu N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểu 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Hữu N 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt: 09 (chín) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/11/2023).
Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Trần Văn K 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/5/2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/5/2024).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/9/2024 các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo Vũ rút toàn bộ
4
yêu cầu kháng cáo, bị cáo K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V có nội dung yêu cầu rõ ràng, gửi trong hạn luật định, nên đủ cơ sở chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tuyên phạt bị cáo Trần Văn K hình phạt 08 năm tù, bị cáo Nguyễn Văn V hình phạt 07 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn V rút yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 342, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự để quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đối với bị cáo Trần Văn K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới, ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra còn phù hợp với lời khai của bị cáo Võ Văn Hữu N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
5
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trần Văn K và Nguyễn Văn V thì thấy:
Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người, đặc biệt là cho người dưới 18 tuổi sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân. Bị cáo K là người có trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo đứng ra rủ rê, lôi kéo, hùn tiền mua ma túy và cung cấp ma túy cho các bị cáo N, V và các đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo N. Bị cáo V là người hùn tiền mua ma túy, cung cấp phương tiện đi mua ma túy để K, V và các đối tượng khác sử dụng ma túy.
Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo Trần Văn K hình phạt 08 năm tù, bị cáo Nguyễn Văn V hình phạt 07 năm tù là phù hợp, thỏa đáng, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn V rút toàn bộ nội dung yêu cầu kháng cáo. Xét, việc rút kháng cáo của bị cáo V là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Trần Văn K giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[4] Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo K không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với đối với Nguyễn Văn V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
6
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn K.
Áp dụng: điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt: bị cáo Trần Văn K 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/5/2024).
Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 172/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 172/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K và Nguyễn Văn V
