Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân .

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thúy Mở.

Bà Nguyễn Thị Lương

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 195/2024/LST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh C; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Trần Thị T là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Nguyễn Mạnh C kết hôn trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Chị và anh C đã đăng ký kết hôn ngày 24 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau lễ cưới, do điều kiện công việc nên chị và anh C về chung sống cùng nhau tại tỉnh Bắc Ninh, đến khoảng năm 2015 thì vợ chồng chuyển về sinh sống ổn định tại xã N, huyện T từ đó cho đến nay. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc và có hai con chung, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh C không chung thủy trong quan hệ hôn nhân dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải động viên nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh C. Chị và anh C có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á sinh ngày 17 tháng 7 năm 2012 và Nguyễn Thành Đ sinh ngày 20 tháng 11 năm 2014. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh C tự thỏa thuận và không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị và anh C tự thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai đề ngày 26/8/2024 và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Mạnh C có lời trình bày thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay, chị T có đơn xin ly hôn, anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị T vẫn quyết tâm xin ly hôn thì anh C cũng đồng ý. Về con chung, vợ chồng anh có hai con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thành Đ. Khi ly hôn, anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con chung. Về tài sản chung, anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã tuân theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh C. Giao các con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thành Đ cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết

Chị Trần Thị T có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh C. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Mạnh C hiện đang cư trú tại thôn H, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về yêu cầu của chị Trần Thị T ly hôn với anh Nguyễn Mạnh C

Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Mạnh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, kết hôn giữa chị T và anh C là hợp pháp. Lời khai của các đương sự và tài liệu xác minh tại gia đình, địa phương thống nhất thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 và đến đầu năm 2024 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống; anh C không chung thủy trong quan hệ hôn nhân nên mặc dù đã được gia đình hòa giải động viên song tình cảm vợ chồng không được cải thiện mà ngày càng trở nên thờ ơ lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy, giữa vợ và chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, chị T và anh C đều có lời khai thống nhất về việc vợ chồng đang sống ly thân nhau. Tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, chị T kiên quyết đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Mạnh C, anh C cũng đồng ý. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T ly hôn với anh C.

[3] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Mạnh C có 02 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á sinh ngày 17 tháng 7 năm 2012 và Nguyễn Thành Đ sinh ngày 20 tháng 11 năm 2014. Khi ly hôn, chị T và anh C đều đề nghị được trực tiếp nuôi các con chung. Hội đồng xét xử xét: Về thu nhập để nuôi con: Do chị T và anh C đều làm việc tại các công ty thuộc khu công nghiệp V nên có thu nhập ổn định, đảm bảo kinh tế cho việc nuôi dưỡng con chung. Về điều kiện chỗ ở, thực tế hiện nay, chị T và anh C có tài sản chung là một ngôi nhà tại thôn H, xã N, huyện T, vợ chồng và các con đều đang sinh sống ở đây. Các con Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thành Đ đang học tập ổn định trên địa bàn xã N, huyện T và có nguyện vọng mong muốn được ở cùng nhau và ở cùng mẹ trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Xét thấy, việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng các con là nghĩa vụ và quyền của cả cha và mẹ; người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Do đó, trên cơ sở xem xét quyền lợi về mọi mặt của các con, hướng tới bảo đảm sự ổn định về tâm lý và tình cảm của con, Hội đồng xét xử giao cho chị Trần Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á và Nguyễn Thành Đ là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Hiện tại, chị Trần Thị T có khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung, việc chị T không yêu cầu anh Nguyễn Mạnh C cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[4] Về tài sản chung, chị Trần Thị T và anh Nguyễn Mạnh C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí, chị Trần Thị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Mạnh C.
  2. Về con chung:

    Giao cho chị Trần Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Á sinh ngày 17 tháng 7 năm 2012 và Nguyễn Thành Đ sinh ngày 20 tháng 11 năm 2014 đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0009981 ngày 18/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T, anh Nguyễn Mạnh C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND H.Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS H. Thủy Nguyên;
  • - UBND xã Ngũ Lão, H.Thủy Nguyên;
  • (Giấy đăng ký kết hôn ngày 24/02/2012)
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T ly hôn anh Nguyễn Mạnh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger