TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2024/HS- ST
Ngày: 08/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.
Bà Bạc Thị Kiên.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phùng Cẩm Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/HSST- QĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 đối với các Bị cáo:
1. Họ và tên: Vì Văn H; Sinh năm: 1980, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vì Văn G; sinh năm 1959; Con bà: Quàng Văn L; sinh năm 1958; năm 2000 Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Vì Thị D; sinh năm 1984; có 01con chung sinh năm 2002. Đến 2018 Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Quàng Thị N; sinh năm 1980; có 01 sinh năm 2019. Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 24/7/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 141/2020/HSST. Đến ngày 29/12/2022 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Vũ Năng T; sinh năm: 1986, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Năng P; sinh năm 1963; Con bà: Phạm Thị B; sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là: Vì Thị D1; sinh năm 1987; Bị cáo có 02 con chung sinh đôi năm 2008. Tiền án; Tiền sự: Không. Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Quàng Thị L1; sinh năm 1958. Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ, ngày 13/3/2024, bị cáo Vũ Năng T đi bộ từ nhà ở thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến nhà bị cáo Vì Văn H1 ở bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để rủ H1 đi làm, trong lúc nói chuyện H1 bảo T chở H1 xuống bản N, xã T, huyện Đ đề tìm mua Heroine sử dụng. Sau đó T đồng ý rối sang nhà mẹ vợ là Quàng Thị L1; sinh năm 1958 ở bản L, xã T, huyện Đ để mượn xe đạp điện. Sau đó T chở H1 xuống bản N, xã T, huyện Đ để mua ma túy, khi đi H1 mang theo số tiền 150.000 đồng và 01 bật lửa ga màu đỏ để ở túi quần bên phải của H1, khi đến khu vực đầu bản Nà Ngum, xã T thì H1 bảo T đứng đợi còn H1 một mình đi vào bản để mua ma túy, H1 đi bộ đến giữa bản N thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, H1 hỏi “có hàng không để em một ít?” Người đàn ông đó nói “có tiền lấy bao nhiêu thì đưa đây?”, H1 lấy 150.000 đồng đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông nhận tiền và nói “Đợi ở đây” rồi đi vào trong bản Na Ngum khoảng 20 phút sau người đàn ông đó quay lại đưa cho H1 01 gói nilon màu đen được hơ lửa hàn kín, H1 mở gói nilon ra thì thấy các cục chất bột Heroine màu trắng, sau đó H1 lấy bật lửa của mình đang đi bật lửa hàn kín lại gói nilon màu đen trong có chứa Heroine. Sau khi mua được ma túy, H1 quay lại chỗ T, khi H1 đi bộ được khoảng 3m ngó nghiêng không thấy ai H1 tụt quần đang mặc xuống và nhét gói nilon màu đen vào hậu môn của H1 rồi mặc lại quần. Sau đó H1 tiếp tục đi bộ ra chỗ T, lúc này T đã đứng đợi H1 khoảng 01 giờ. Lúc này T hỏi H1 có được không? (Ý T hỏi H1 có mua được ma túy không?), H1 trả lời T “được” và bảo T chở về nhà. Đến 14 giờ 45 phút cùng ngày khi H1 và T đi đến khu vực bản Mé, xã T, huyện Đ thì gặp tổ công tác Đồn Biên phòng T1 chủ trì phối hợp với Công an xã T đang làm nhiệm vụ tổ công tác yêu cầu T và H1 dừng xe kiểm tra, qua kiểm tra T và H1 cùng chiếc xe đạp điện do T điều khiển không phát hiện thu giữ được gì, tổ công tác hỏi T và H1 “đi đâu đấy?” Thư trả lời “đi tìm mua mua H2 về sử dụng”. Sau đó H1 khai nhận giấu ma túy trong hậu môn. Tổ công tác đưa T và H1 về Trạm y tế xã T, huyện Đ và mời người chứng kiến, cán bộ Trạm y tế kiểm tra hậu môn của H1 thì phát hiện có 01 gói nilon màu đen được hơ lửa hàn kín, H1 khai đó là gói ma túy H1 mua về để cả H1 và T cùng sử dụng. Sau đó Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, sau đó hoàn tất thủ tục đưa các bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 14/3/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vì Văn Hoa như sau: Mẫu các cục bột màu trắng nghi ma túy có khối lượng là: 0,71 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 557/KL- KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu các cục bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vì Văn Hoa gửi giám định là chất ma túy. Loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là: 0,67 gam.
Tại bản cáo trạng số: 118/CT-VKSHĐB ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố các bị cáo Vì Văn H1, Vũ Năng T về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vì Văn H1: Từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Năng T: Từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,67 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý; 01 bật lửa ga màu đỏ đã hết giá trị sử dụng.
Đối với 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ trắng, hiệu B1 (xe đã qua sử dụng). Qua điều tra, xác minh chiếc xe đạp điện đó là của bà Quàng Thị L1; sinh năm 1958; Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bà L1 không biết việc các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là bà Quàng Thị L1 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 687/QĐ- ĐTTH. Bà L1 đã nhận lại chiếc xe trên và không yêu cầu gì khác. Đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của các Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Các Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo để các Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Vì V, Vũ Năng T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 13/3/2024 tại khu vực đường thuộc bản Mé, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Vì Văn H1 đã có hành vi cất giấu trái phép 0,71 gam Heroine nhằm mục đích để cùng Vũ Năng T sử dụng. Bị cáo Vũ Năng T đã chở bị cáo Vì Văn H1 đi mua số Heroine trên. Hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của các Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Trước và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo H1 và T là đồng phạm giản đơn không có tổ chức hay phân công vai trò, trách nhiệm cụ thể cho từng người. Tuy nhiên bị cáo H1 là người rủ, bỏ tiền mua ma tuý và cất giấu ma tuý, vì vậy Bị cáo H1 giữ vai trò chính, bị cáo T giữ vai trò sau bị cáo H1 và phải chịu trách nhiệm, mức độ hình phạt theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố các Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, các Bị cáo không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của các Bị cáo:
[3.1] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vì Văn H1:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được đi học đến hết lớp 3 sau đó bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 2000 Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Vì Thị D; sinh năm 1984; có 01con chung sinh năm 2002. Đến 2018 Bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Quàng Thị N; sinh năm 1980; có 01 con chung sinh năm 2019. Tiền sự: Không.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 24/7/2020 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 141/2020/HSST. Đến ngày 29/12/2022 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, chính vì vậy Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Vũ Năng T:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được đi học đến hết lớp 9 sau đó bỏ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 2007 kết hôn với chị Vì Thị D1; sinh năm 1987 và có 02 con sinh đôi sinh năm 2008. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngày 13/3/2024 các Bị cáo bị Đồn Biên phòng T1 chủ trì phối hợp với Công an xã T bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với các Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của các Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,67 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý; 01 bật lửa ga màu đỏ đã hết giá trị sử dụng.
Đối với 01 chiếc xe đạp điện màu đỏ trắng, hiệu B1 (xe đã qua sử dụng). Qua điều tra, xác minh chiếc xe đạp điện đó là của bà Quàng Thị L1; sinh năm 1958; Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bà L1 không biết việc các bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội. Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu là bà Quàng Thị L1 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 687/QĐ- ĐTTH. Bà L1 đã nhận lại chiếc xe trên và không yêu cầu gì khác. Xét thấy việc trả lại tài sản là có căn cứ, do vậy HĐXX cần chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
[6.1] Bị cáo H1 khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông, khoảng 30 tuổi (Bị cáo không biết tên đầy đủ, địa chỉ ở đâu) Cơ quan điều tra công an huyện Đ và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
[6.2] Về sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Quàng Thị L1; Địa chỉ: Bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Xét thấy Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Bị hại và Người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vì Văn H1, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo: 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (13/3/2024).
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Năng T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (13/3/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
* Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,67 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý; 01 bật lửa ga màu đỏ đã hết giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
Chấp nhận biên bản trả lại tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên cho chủ sở hữu là bà Quàng Thị L1.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/8/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 172/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vì Văn H, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo: 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (13/3/2024). Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Năng T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Bị cáo: 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (13/3/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.
