Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/6/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng

Bà Phạm Thị Nguyên

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 138/2024/HNGĐ-TLST ngày 25/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2024/QĐ-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh ngày 04/02/1981.
  2. Địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 05/4/1985.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm B, thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Cộng hòa liên bang Đ.

( Chị T, anh D có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân : Chị và anh Nguyễn Văn D tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 09/4/2007. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc và sinh sống tại Hòa Bình. Vào khoảng năm 2019 anh D sang CHLB Đ lao động, từ khi đi anh D chưa về Việt Nam lần nào nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện hỏi thăm các con. Tuy nhiên do anh D xác định không về Việt Nam sinh sống dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về quan hệ con chung: Chị và anh D có 2 con chung là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Nguyệt Á, sinh ngày 29/5/2017. Hiện nay hai con đang sinh sống cùng chị tại Hòa Bình. Ly hôn do anh D đang ở nước ngoài nên chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và tự nguyện không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh D không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Anh Nguyễn Văn D hiện nay đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đ. Do chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh D nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh D thông qua gia đình. Bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Q là mẹ đẻ và anh trai của anh D xác định, anh D đi lao động tại CHLB Đ từ năm 2017, từ khi đi anh D chưa về Việt Nam lần nào. Địa chỉ anh D ở nước ngoài gia đình bà không biết nhưng anh D thường xuyên liên lạc điện thoại với anh Q. Bà H và anh Q đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh D biết. Thông qua gia đình anh D có quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung, anh đồng ý để chị T nuôi hai con, về cấp dưỡng tiền nuôi con hai bên tự thỏa thuận. Về tài sản chung, nợ chung không có, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Do điều kiện anh không thể Việt Nam để giải quyết ly hôn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho anh Q nhận thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Cháu Nguyễn Nhật A là con chung của chị T, anh D có quan điểm được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh D. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Nhật A, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Nguyệt Á, sinh ngày 29/5/2017 cho chị Vũ Thị T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Do các bên không đề nghị, nên không xem xét.Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Vũ Thị T có Hộ khẩu thường trú tại: Tổ B, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Anh Nguyễn Văn D có địa chỉ tại Xóm B, thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương. Hiện anh D đang lao động tại CHLB Đ. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh D tại CHLB Đ. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh D cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh D được biết, anh D thường xuyên liên lạc với anh trai là anh Nguyễn Văn Q. Anh Q đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh D biết. Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Chị T, anh D đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương ngày 09/4/2007, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2017 anh D sang CHLB Đ lao động, từ khi đi anh D chưa về Việt Nam lần nào, do vợ chồng sống xa nhau lâu ngày dẫn đến bất đồng quan điểm. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh D. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình anh D cũng có quan điểm xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không còn tình cảm, nay chị T có đơn ly hôn anh cũng đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh D đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

- Về con chung: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Văn D có hai con chung là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Nguyệt Á, sinh ngày 29/5/2017. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi hai con, thông qua gia đình anh D cũng có quan điểm đồng ý. Xét thấy, hiện tại anh D đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp nuôi con, hai cháu đang học tập ổn định tại Hòa Bình, các cháu được mẹ chăm sóc và phát triển tốt. Do đó để ổn định cuộc sống của các cháu cần tiếp tục giao cả 2 cháu cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Nhật A, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Nguyệt Á, sinh ngày 29/5/2017 cho chị Vũ Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  3. Anh Nguyễn Văn D được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000539 ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  6. Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger