TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2025/HS-ST Ngày 31 tháng 10 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ và bà Nguyễn Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B. Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 127/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 319/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, tại Hà Nội; địa chỉ: thôn Ả, xã M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1969; gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Nguyễn Thị X, sinh năm 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Quyết định số 2037/QĐ-CTUBND ngày 26/7/2013 của Chủ tịch UBND quận T (trước sáp nhập), thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội số A Hà Nội. Ngày 21/7/2015 bị cáo chấp hành xong Quyết định.
- Bản án số 28/2017/HSST ngày 16/5/2017 của TAND huyện Mỹ Đức (trước sáp nhập), thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2018 và các quyết định khác của bản án.
- Bản án số 52/2019/HSST ngày 12/9/2019 của TAND huyện Mỹ Đức (trước sáp nhập), thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2022 và các quyết định khác của bản án.
- Quyết định số 163/QĐ-XPHC ngày 03/9/2025 của Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2025 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh B, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phùng Thị N - Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh B, (có mặt).
- Người chứng kiến:
- Ông Lường Văn D, sinh năm 1998, địa chỉ : thôn Đ, xã Q, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).
- Ông Đinh Thế V, sinh năm 1991, địa chỉ: thôn T, xã Y, tỉnh Tuyên Quang, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường P bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; HKTT: thôn Ả, xã M, thành phố Hà Nội, có hành vi cất giấu trái phép chất bột màu trắng dạng cục (nghi là ma tuý) trong người. Vật chứng thu giữ, tại túi áo ngoài phía trước bên phải T đang mặc: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục (niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu V1); 01 túi da màu nâu (dạng ví) bên trong có 15 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng và 45 túi nilon màu trắng viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong túi da màu nâu và các vật chứng khác trong phong bì thư, ký hiệu V2). T khai nhận chất bộ màu trắng chứa trong các túi nilon bị Công an thu giữ là ma túy Heroine, số ma túy này T vận chuyển thuê cho người đàn ông không quen biết để nhận tiền công 5.000.000 đồng.
Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng vào phong bì thư trước sự chứng kiến của anh Lường Văn D, sinh năm 1998, HKTT: thôn Đ, xã Q, tỉnh Thái Nguyên và anh Đinh Thế V, sinh năm 1991, HKTT: thôn T, xã Y, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, lực lượng Công an còn tạm giữ của T: 01 điện thoại Iphone màu trắng lắp sim số 0924.670.430 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, biển kiểm soát (BKS) 29Y3-560.42.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, ngày 10/5/2025 Phòng K Công an tỉnh B ban hành bản Kết luận giám định số 1026/KL-KTHS, kết luận:
“- Chất màu trắng dạng cục bên trong phong bì thư ký hiệu V1 gửi giám định có khối lượng là 29,1940 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine.
- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu V2 gửi giám định có khối lượng là 9,7682 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine"
Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn T là đối tượng sử dụng ma tuý từ năm 2010 đến nay. T thuê trọ tại khu phố P, phường P, tỉnh Bắc Ninh và làm nghề chở xe ôm. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 08/5/2025, T đang đứng đợi khách tại khu vực bến xe B, thuộc địa phận phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường K, tỉnh Bắc Ninh) thì có người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đến đặt vấn đề thuê T vận chuyển 02 túi ma túy heroine xuống khu vực phường P, tỉnh Bắc Ninh giao cho người nhận (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ), khi giao xong ma tuý quay lại, người này trả công cho T 5.000.000 đồng, T đồng ý. Người đàn ông đưa cho T 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy heroine màu trắng dạng cục và 01 túi da màu nâu bên trong có 60 túi nilon đều chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine, đồng thời xin số điện thoại của T để gửi cho người nhận ma túy ở phường P. T nhận số ma túy của người đàn ông, cất giấu vào túi áo ngoài phía trước bên phải đang mặc và đọc số điện thoại 0924.670.xxx của mình cho người đàn ông đưa ma tuý cho mình. Sau khi nhận và cất giấu ma túy, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS 29Y3 - 560.42 một mình đi đến đoạn đường thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh thì dừng lại chờ người đến nhận nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp sim số 0924.670.430 của T không phát hiện nội dung gì liên quan đến ma túy.
Tiến hành xác minh xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, BKS 29Y3- 560.42, kết quả không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Số khung 3718KY043263, số máy KC34E1085245 là nguyên thủy. Ngày 24/12/2023, T mua chiếc xe mô tô trên ở cửa hàng mua bán xe máy cũ Thắng N1 tại thôn V, xã M, thành phố Hà Nội với giá 19.000.000 đồng, mục đích làm nghề chở xe ôm. Ngày 08/5/2025, T sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện vận chuyển ma túy.
* Về vật chứng vụ án:
- 01 phong bì niêm phong có chữ ký và dấu của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp sim số 0924.670.430;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, BKS 29Y3- 560.42.
Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBN-P3 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 BLHS.
* Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo biết việc vận chuyển ma tuý là vi phạm pháp luật, do bị cáo nghiện ma tuý và hám lợi nhuận, bị cáo đã nhận lời vận chuyển ma tuý. Việc bị cáo vận chuyển ma tuý bị cáo không nói với và cũng không ai biết. Số tiền 5.000.000 đồng người đàn ông hứa trả cho bị cáo khi vận chuyển xong, bị cáo chưa nhận được. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 16 năm đến 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/5/2025.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, BKS 29Y3- 560.42. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp sim số 0924.670.430 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
* Luật sư Phùng Thị N là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Nhất trí về tội danh cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất có thể vì hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, vợ bị cáo không có công việc ổn định, con còn nhỏ. Đề nghị trả lại cho vợ bị cáo chiếc xe moto để vợ bị cáo có phương tiện đi lại.
* Bị cáo Nguyễn Văn T nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư và không bổ sung gì thêm.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2]. Xét về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 08/5/2025 tại khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi vận chuyển trái phép 38,9622 gam ma túy Heroine cho người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) từ khu vực Bến xe B thuộc phường K, tỉnh Bắc Ninh đến khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh để giao cho người không quen biết, mục đích để nhận tiền công 5.000.000 đồng. Khi T chưa kịp giao ma túy và nhận tiền công thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra thu giữ vật chứng, niêm phong ma túy.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý mà còn bởi ma tuý là chất gây nghiện, là hiểm hoạ và là nguồn gốc dẫn đến biết bao loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và xét xử về hình sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội như trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Các vấn đề khác:
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 phong bì niêm phong có chữ ký và dấu của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định, đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu huỷ là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, BKS 29Y3 - 560.42, số khung RLHKC3718KY043263, số máy KC34E1085245, dung tích xi lanh 149cm³. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để vận chuyển ma tuý cho nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, không chấp nhận đề nghị của Luật sư trả lại chiếc xe cho vợ bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp sim số 0924.670.430 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với người đàn ông thuê T vận chuyển trái phép chất ma túy và người nhận ma tuý, do T không biết họ tên, nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra, xác minh. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Từ những phân tích đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận. Không có căn cứ chấp nhận đề nghị của các luật sư về giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/5/2025.
- Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký và dấu của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, BKS 29Y3- 560.42, số khung RLHKC3718KY043263, số máy KC34E1085245, dung tích xi lanh 149cm³;
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, lắp sim số 0924.670.430, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKS-P3 ngày 26/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh).
- Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngọ Thị Thanh Hảo |
Bản án số 172/2025/HS-ST ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 172/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T bị xử về tội vận chuyển trái phép chất ma tuý
