|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 172/2025/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Khánh Loan.
Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.
Ông Trần Doãn M - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 263/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1995, tại Thanh Hóa (có mặt); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; Chồng ông Hoàng Văn T, sinh năm 1993; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2/ Họ và tên: Phạm Văn L, sinh năm 1984, tại Hải Phòng (có mặt); Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; con ông: Phạm Xuân N1, sinh năm 1960 và Nguyễn Thị B1, sinh năm 1959; Vợ bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1992; có 02 con sinh năm 2018 và sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Ngày 30/12/2010, bị cáo L bị Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 11 (Mười một) năm tù và phạt bổ sung 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả” theo quy định tại Điều 180 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, buộc L nộp 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính và 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Bản án số: 211/2010/HSST). Ngày 31/8/2015, L chấp hành xong bản án.
Ngày 16/02/2020, bị cáo Phạm Văn L thực hiện hành vi đánh bạc tại địa chỉ tổ I, khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Ngày 28/02/2025, bị cáo Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/9/2024 và chuyển tạm giữ, tạm giam ngày 23/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B theo quyết định tạm giam số 18/2025/HSST-QĐTG ngày 11/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
3/ Họ và tên: Trương Quang Q, sinh năm 1993, tại Hà Tĩnh (có mặt); Nơi thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tỉnh; Chỗ ở hiện nay: Tổ H, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Trương Quang B2, sinh năm 1964 và bà Trần Thị M1, sinh năm 1964; vợ bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Quang Q: Luật sư Nguyễn Huy H1, Văn phòng L1 – Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
4/ Họ và tên: Phạm Văn S, sinh năm 1986, tại Thái Bình (có mặt); Nơi thường trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện nay: Tổ I, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Phạm Văn N2, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1966; Vợ bà Bùi Thị T3, sinh năm 1983; có 02 con sinh năm 2006 và sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không.
Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
5/ Họ và tên: Nguyễn Đăng D, sinh năm 1985, tại Nam Định (có mặt); Nơi thường trú: Ấp C, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Trần Thị S1, sinh năm 1945 (đã chết); vợ bà Đinh Thị Minh M2, sinh năm 1987; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 27/5/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng nai xử phạt 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Doanh chấp hành xong bản án ngày 09/7/2006.
Bị bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/9/2024 và chuyển tạm giữ, tạm giam ngày 23/9/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị D1, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/9/2024 tại nơi ở của Nguyễn Thị H địa chỉ tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, H rủ Phạm Văn L, Phạm Văn S, Trương Quang Q thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “T4 lên”. H chuẩn bị 01 (Một) bộ bài tây 52 lá, 01 (Một) thảm vải màu trắng đen để đánh bạc.
Cách thức đánh bạc như sau: Bộ bài tây có 52 lá chia đều cho 04 người, mỗi người 13 lá bài, trong đó lá 2 là lớn nhất, kế đến là các là bài theo thứ tự nhỏ dần từ lá A, K, Q, J, 10, 9 ... 3; ba “đôi” (02 lá bài giống nhau) liên tiếp nhau, bốn “đôi” liên tiếp nhau hoặc 04 lá bài giống nhau (tứ quý) thì lớn hơn lá 2 (gọi là “chặt heo”). Nếu các lá bài có cùng giá trị thì so theo chất bài theo thứ tự giảm dần là cơ, rô, chuồn, bích (ví dụ lá A cơ lớn hơn lá A bích). Ván đầu tiên, người chơi có lá 3 bích sẽ đánh lá 3 bích đầu tiên, các ván tiếp theo người nào thắng nhất ván trước sẽ chia bài và đánh đầu tiên. Người chơi đánh một hoặc hai, ba, bốn lá bài giống nhau hoặc một sảnh bài từ ba lá bài trở lên liên tiếp nhau (ví dụ 3, 4, 5, ...), người kế bên (tính theo chiều kim đồng hồ) sẽ kiểm tra bài của mình, nếu có những lá bài lớn hơn tương ứng sẽ đánh xuống, nêu không có sẽ mất lượt và đợi vòng tiếp theo. Cứ tuần tự xoay vòng như vậy cho đến khi hết bài. Người hết các lá bài trước nhất gọi là thắng nhất, người hết bài thứ hai gọi là thắng nhì, người hết bài thứ ba gọi là thua ba và người còn lại gọi là thua bét. Người thắng nhất thắng người thua bét là 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng), người thắng nhì thắng người thua ba là 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng), người “chặt heo” ăn của người đánh lá 2 cơ, 2 rô là 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng)/ lần “chặt heo” và ăn của người đánh lá 2 chuồn, 2 bích là 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng)/ lần “chặt heo”.
Người nào sau khi chia bài có 06 “đôi” hoặc tứ quý 2 hoặc sảnh bài từ 2 đến A gọi là “ăn trắng” và thắng 03 người còn lại mỗi người 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng). Người nào đánh hết bài mà 03 người còn lại chưa đánh được lá bài nào gọi là “thắng ngộp” và thắng 03 người còn lại mỗi người 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Người tham gia đánh bạc thỏa thuận với nhau thu tiền xâu là 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng) nếu ván bài có người chơi “ăn trắng” hoặc “thắng ngộp”. Tiền thu xâu để trong 01 (Một) vỏ lon sữa kim loại nhãn hiệu Dairy Lac kích thước 20 x 10cm để H mua nước uống cho cả nhóm.
Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Đăng D đến sòng bạc nhưng D chưa tham gia đánh bạc. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, H nghỉ không tham gia đánh bạc, lúc này tiền xâu là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) nên H lấy 100.000đồng (Một trăm nghìn đông) tiên xâu đi mua nước uống cho cả nhóm. Doanh thay chỗ của H để đánh bạc với L, S, Q.
Số tiền từng người sử dụng đánh bạc như sau:
- Nguyễn Thị H mang theo và sử dụng 700.000đồng (Bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc. H cho Q mượn 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) đề đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H thua 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, H cất giấu 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) sử dụng đánh bạc trong phòng ngủ nên không bị thu giữ.
- Phạm Văn L mang theo và sử dụng 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Lâm thua và nợ Sinh 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng L không đưa tiền cho S mà L cấn trừ số tiền 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) Sinh nợ L trước đó. Khi bị bắt, thu giữ trên người của L 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) đang dùng đánh bạc.
- Trương Quang Q mang theo và sử dụng 200.000đồng (Hai trăm nghìn động) đề đánh bạc, đồng thời mượn của H 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) để đánh bạc nên tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 2.200.000đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Q đã trả lại H 1.000.000đồng (Một triệu đồng) từ tiền sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Q thua 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của Q 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
- Phạm Văn S mang theo và sử dụng 1.100.000đồng (Một triệu một tram nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, S thắng Lâm 750.000đồng (B3 trăm năm mươi nghìn đồng) và cấn trừ số tiền 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) Sinh nợ L nêu trên. Khi bị bắt, thu giữ trên người của Sinh 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
Nguyễn Đăng D mang theo và sử dụng 1.530.000đồng (Một triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi D tham gia đánh bạc, L và S đã cấn trừ xong tiền nợ nêu trên, Q đã trả lại H 1.000.000đồng (Một triệu đồng) tiền sử dụng đánh bạc và H đã nghỉ không đánh bạc. Quá trình đánh bạc, D thắng 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng). Khi bị bắt, thu giữ trên người của Doanh 1.630.000đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) đang dùng đánh bạc.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D đang thực hiện hành vi đánh bạc, Nguyễn Thị H đang ngồi xem đánh bạc thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, tổng số tiền dùng đánh bạc của H, L, Q, S là 9.280.000đồng (Chín triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và tổng số tiền dùng đánh bạc của D là 6.830.000đồng (Sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra, H, L, Q, S, D khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) bộ bài tây 52 lá, 01 (Một) thảm vải màu trắng đen sử dụng đánh bạc và 01 (Một) vỏ lon sữa kim loại nhãn hiệu Dairy Lac kích thước 20 x 10cm đựng tiền xâu.
- Thu giữ trên người các bị cáo số tiền 6.830.000đồng (Sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng) dùng đánh bạc, cụ thể: Nguyễn Đăng D 1.630.000đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng), Phạm Văn L 3.000.000đồng (Ba triệu đồng), Phạm Văn S 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng), Trương Quang Q 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- Thu giữ 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền xâu bên trong 01 (Một) vỏ lon sữa nêu trên.
- Nguyễn Thị H giao nộp số tiền dùng đánh bạc là 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
- Phạm Văn S giao nộp số tiền dùng đánh bạc là 750.000đồng (B3 trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối với số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) H sử dụng đánh bạc, H đề trong phòng ngủ chưa bị thu giữ.
Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax Nguyễn Thị H sử dụng để gọi rủ người khác đến đánh bạc: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Phạm Thị D1 (sinh năm 1992, ngụ tại ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai), chị D1 cho H mượn sử dụng và chị D1 không biết H sử dụng điện thoại nêu trên làm công cụ phạm tội.
* Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả số tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm:
- 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) của Nguyễn Thị H.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax và 01 (Một) xe mô tô biển số 60F4-245.06 của Trương Quang Q.
Quá trình điều tra, các bị cáo H, L, Q, S, D khai nhận: Vào trước ngày 22/9/2024 (không rõ ngày cụ thể) tại nơi ở của H địa chỉ nêu trên, các bị cáo L, S, D, Q, H đã 02 (Hai) lần đánh bạc với nhau dưới hình thức đánh bài “T4 lên” nhưng không trực tiếp thắng thua bằng tiền mà chỉ ghi điểm. Sau khi đánh bạc xong, người nào thua sẽ bỏ ra khoảng 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) mua nước uống cho cả nhóm.
Bản cáo trạng số: 83/CT-VKSBH ngày 16/01/2025 truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35, Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 08 (tám) tháng tù đến 01 (một) năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng D từ 08 (tháng) đến 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đăng D từ 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) đến 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H từ 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) đến 45.000.000đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trương Quang Q từ 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phạm Văn S từ 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá, 01 (Một) thảm vải màu trắng đen, 01 (Một) vỏ lon sữa kim loại nhãn hiệu Dairy Lac là công cụ phục vụ việc đánh bạc, thu xâu.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 8.680.000đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng đánh bạc của các bị cáo.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị H giao nộp 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền sử dụng đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax cho bà Phạm Thị D1 do không liên quan đến vụ án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Quang Q, Luật sư Nguyễn Hữu H3 phát biểu:
Luật sư thống nhất luận tội Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, bị cáo Trương Quang Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ sinh năm 2021. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử phạt tiền đối với bị cáo Trương Quang Q thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Kính đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt tiền đối với bị cáo Trương Quang Q số tiền 20.000.000đồng do bị cáo Q nuôi con nhỏ sinh năm 2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận:
Từ khoảng 11 giờ 30 phút đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/9/2024 tại nơi ở của bị cáo Nguyễn Thị H địa chỉ tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D thực hiện hành vi đánh bạc trái phép với nhau dưới hình thức đánh bài “T4 lên” thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc của H, L, Q, S là 9.280.000đồng (Chín triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) và tổng số tiền sử dụng đánh bạc của bị cáo D là 6.830.000đồng (Sáu triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng) thì bị Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai phát hiện bắt quả tang.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, các bị cáo trong vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo H rủ các bị các bị cáo Q, Sinh, D tham gia đánh bạc.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, đồng thời tác động đến việc gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo H, S, Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo H, L, Q, D có con nhỏ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phạm Văn L có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ, lưu hành tiền giả”. Ngày 28/02/2025, bị cáo Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc”.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá, 01 (Một) thảm vải màu trắng đen, 01 (Một) vỏ lon sữa nhãn hiệu Dairy Lac là công cụ phục vụ việc đánh bạc, thu xâu.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 8.680.000đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng đánh bạc. Cụ thể:
- + Bị cáo Nguyễn Đăng Doanh số tiền 1.630.000đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn L số tiền 3.000.000đồng (Ba triệu đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn S số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- + Bị cáo Trương Quang Q số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- + Thu giữ số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền xâu bên trong 01 (Một) vỏ lon sữa nêu trên.
- + Bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn S số tiền 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
(Theo giấy nộp tiền mặt vào tài khoản ngày 12/3/2025 số tiền 8.680.000đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) của Kho bạc Nhà nước Đ).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị H giao nộp 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền sử dụng đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số Imell 357183960074246, số Imel2 357183960339888 cho bà Phạm Thị D1 do không liên quan đến vụ án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
[6] Đối với hành vi bị cáo Phạm Văn L đánh bạc vào ngày 16/02/2020. Ngày 28/02/2025, Tòa án nhân nhân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử tại bản án số: 92/2025/HS-ST xử phạt bị cáo Phạm Văn L 01 (một) năm tù, do bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2025/HS-ST chưa có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt.
[7] Đối với 02 (Hai) lần các bị cáo H, L, S, D, Q đánh bạc vào trước ngày 22/9/2024 (không rõ ngày cụ thể) tại căn nhà địa chỉ tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Kết quả điều tra không có căn cứ để xác định số tiền sử dụng đánh bạc mỗi lần từ 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) trở lên. Các bị cáo H, L, S, D, Q chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo H, L, S, D, Q về các lần đánh bạc này.
[8] Đối với ông Hoàng Văn D2 (chủ căn nhà địa chỉ nêu trên), ông D2 không biết việc các bị cáo H, L, S, D, Q sử dụng nhà làm địa điểm đánh bạc nên ông D2 không xem xét, xử lý.
[9] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trương Quang Q, Luật sư Nguyễn Huy H1 phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 35; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 36; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng D 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ, nhưng trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là 15 (mười lăm) ngày (từ ngày 22/9/2024 đến ngày 26/9/2024), cứ 01 (một) ngày tạm giữ bằng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo phải chấp hành là 07 tháng 15 ngày tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng D cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đăng D tiền 10.000.000đồng (Mười triệu).
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trương Quang Q số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Phạm Văn S số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ bài tây 52 lá, 01 (Một) thảm vải màu trắng đen, 01 (Một) vỏ lon sữa nhãn hiệu Dairy Lac.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 8.680.000đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền sử dụng đánh bạc. Cụ thể:
- + Bị cáo Nguyễn Đăng Doanh số tiền 1.630.000đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn L số tiền 3.000.000đồng (Ba triệu đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn S số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- + Bị cáo Trương Quang Q số tiền 1.100.000đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).
- + Thu giữ số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền xâu bên trong 01 (Một) vỏ lon sữa.
- + Bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng).
- + Bị cáo Phạm Văn S số tiền 750.000đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
(Theo giấy nộp tiền mặt vào tài khoản ngày 12/3/2025 số tiền 8.680.000đồng (Tám triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) của Kho bạc Nhà nước Đ).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị H giao nộp 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền sử dụng đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số Imell 357183960074246, số Imel2 357183960339888 cho bà Phạm Thị D1 do không liên quan đến vụ án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Văn L, Trương Quang Q, Phạm Văn S, Nguyễn Đăng D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Vương Thị Khánh Loan Thiều Thị Phi Loan |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Dung |
Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
- - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa (2);
- - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Biên Hòa;
- - THA Dân sự (1);
- - Thi hành án hình sự (6);
- - Bị cáo (5);
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (1);
- - Lưu (5).
Bản án số 172/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 172/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoản 1 Điều 321
