|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2025/HS-ST Ngày: 18-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Mai Anh.
- Bà Ngô Như Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với:
- Bị cáo:
Trần Thị Hồng T; sinh ngày 21 tháng 08 năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 81 T, Ấp B, xã T (trước là xã T, huyện C), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị tạm giam ngày 10/01/2025 “có mặt”.
- Bị hại:
Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1983 “vắng mặt”.
Địa chỉ: B Ấp B, xã T (trước là xã T, huyện B), Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1989 “vắng mặt”.
Địa chỉ: 3 Đường F, xã T (trước là khóm P, xã P, huyện C), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu tìm việc làm điều dưỡng tại các bệnh viện nên bà Nguyễn Thị Cẩm V đã đăng thông tin tìm việc trên mạng xã hội Facebook. Thông qua mạng xã hội, Trần Thị Hồng T liên lạc với bà Nguyễn Thị Cẩm V và tự giới thiệu bản thân đang công tác tại bệnh viện T2, Thành phố Hồ Chí Minh và có khả năng xin việc cho bà V vào làm điều dưỡng tại bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh với chi phí là 60.000.000 đồng.
Ngày 25/10/2015, tại siêu thị C, số A C, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Cẩm V đưa cho Trần Thị Hồng T số tiền 50.000.000 đồng cùng với bộ hồ sơ xin việc làm. Số tiền còn lại là 10.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Cẩm V hứa sẽ đưa sau khi được nhận vào làm việc. Đồng thời, Trần Thị Hồng T viết giấy cam kết sẽ lo cho bà Nguyễn Thị Cẩm V vào làm việc tại bệnh viện N1 trong vòng 03 tháng. Nếu quá thời gian trên mà không xin được việc làm thì Trần Thị Hồng T sẽ hoàn trả lại tiền cùng hồ sơ xin việc cho bà Nguyễn Thị Cẩm V.
Đến ngày 25/01/2016, do bà Nguyễn Thị Cẩm V chưa được nhận vào làm việc nên đã liên lạc với Trần Thị Hồng T thì được T trả lời là bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh không còn nhu cầu tuyển dụng nên sẽ xin việc cho bà V tại bệnh viện A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng phải đưa thêm tiền. Do tin tưởng nên bà Nguyễn Thị Cẩm V đã đồng ý. Theo yêu cầu của Trần Thị Hồng T, từ ngày 26/02/2015 đến ngày 23/06/2016, bà Nguyễn Thị Cẩm V đã chuyển khoản tổng cộng 12 lần với tổng số tiền là 34.780.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 19025960386012 mang tên Nguyễn Thanh P mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Chi nhánh C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau đó, bà Nguyễn Thị Cẩm V vẫn chưa được nhận vào làm việc nên đã liên lạc với Trần Thị Hồng T thì được T trả lời là không xin được việc tại bệnh viện A, Thành phố Hồ Chí Minh và hứa sẽ xin cho bà V vào làm việc tại bệnh viện N1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng phải đưa thêm tiền. Do tin tưởng nên bà Nguyễn Thị Cẩm V đã đồng ý. Theo yêu cầu của Trần Thị Hồng T, bà Nguyễn Thị Cẩm V đã 03 lần đưa tiền mặt cho Trần Thị Hồng T và ông Nguyễn Thanh P với số tiền tổng cộng là 82.485.000 đồng. Tổng cộng bà Nguyễn Thị Cẩm V đã giao cho Trần Thị Hồng T và ông Nguyễn Thanh P số tiền là 167.265.000 đồng.
Đến cuối tháng 07 năm 2016, do không thấy Trần Thị Hồng T thực hiện như lời cam kết, bà Nguyễn Thị Cẩm V đã yêu cầu Trần Thị Hồng T hoàn trả hồ sơ và toàn bộ số tiền đã nhận. Tuy nhiên, Trần Thị Hồng T không đồng ý. Sau đó, bà Nguyễn Thị Cẩm V đến bệnh viện T2, Thành phố Hồ Chí Minh để xác minh và tìm hiểu thì được biết tại bệnh viện không có nhân viên nào tên Trần Thị Hồng T công tác và làm việc với chức danh nữ hộ sinh như lời tự xưng của Trần Thị Hồng T.
Ngày 21/02/2017, Trần Thị Hồng T thừa nhận với bà Nguyễn Thị Cẩm V là không có khả năng xin việc cho bà V và viết giấy cam kết hoàn trả lại số tiền 167.265.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó Trần Thị Hồng T không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả như cam kết. Do đó, bà Nguyễn Thị Cẩm V đã gửi đơn tố cáo đến Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Hồng T khai nhận: Trần Thị Hồng T là người đang thất nghiệp và quen biết với Trần Thanh P1 vào khoảng tháng 11 năm 2014. Đến tháng 11 năm 2015, Trần Thị Hồng T và Nguyễn Thanh P bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Đến tháng 10 năm 2016, do xảy ra mâu thuẫn nên Trần Thị Hồng T và Nguyễn Thanh P không còn chung sống với nhau nữa. Thông
qua mạng xã hội Facebook, Trần Thị Hồng T được biết bà Nguyễn Thị Cẩm V đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm điều dưỡng tại các bệnh viện. Do đó, Trần Thị Hồng T đã bàn bạc với Nguyễn Thanh P để chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị Cẩm V vì biết P tốt nghiệp ngành điều dưỡng đa khoa và có mối quan hệ với các bệnh viện. Sau khi bàn bạc, Nguyễn Thanh P yêu cầu Trần Thị Hồng T tự xưng là nữ hộ sinh làm việc tại bệnh viện T2, Thành phố Hồ Chí Minh để bà V tin tưởng giao tiền và hồ sơ xin việc. Hồ sơ xin việc bao gồm: Bằng tốt nghiệp điều dưỡng, bằng Anh văn, bằng vi tính, chứng chỉ hành nghề, hình thẻ và 60.000.000 đồng. Theo thỏa thuận, bà Nguyễn Thị Cẩm V đưa trước 50.000.000 đồng, còn lại 10.000.000 đồng sẽ giao sau khi bà V được nhận vào làm việc.
Sau khi không xin được việc làm tại bệnh viện N1, Trần Thị Hồng T tiếp tục yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V đưa thêm tiền để xin vào làm việc tại bệnh viện A, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 04 năm 2016, Trần Thị Hồng T đã nhận thêm tiền mặt của bà V số tiền 27.000.000 đồng tại cổng bệnh viện T3 và số tiền 5.000.000 đồng tại cổng bệnh viện T2 vào tháng 05 năm 2016.
Ngoài các khoản tiền mặt, Trần Thị Hồng T còn yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm V chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng số 19025960386012 do Nguyễn Thanh P đứng tên chủ tài khoản được mở tại Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh C1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với sim thuê bao số 01222989131 và tài khoản ngân hàng nêu trên là do ông Nguyễn Thanh P cung cấp cho Trần Thị Hồng T sử dụng vì điện thoại của Trần Thị Hồng T bị mất và T không có mở tài khoản ngân hàng cá nhân. Tổng cộng, Trần Thị Hồng T đã nhận của bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền mặt là 82.000.000 đồng và đã giao lại cho ông Nguyễn Thanh P. Ngoài ra, ông Nguyễn Thanh P còn trực tiếp nhận tiền mặt của bà Nguyễn Thị Cẩm V số tiền là 50.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh P khai nhận: Trần Thị Hồng T bị mất điện thoại và cần số tài khoản ngân hàng để nhận tiền trả nợ của bạn. Do đó, Nguyễn Thanh P đã cung cấp sim thuê bao số 01222989131 và thông tin tài khoản số 19025960386012 do Nguyễn Thanh P đứng tên chủ tài khoản cho Trần Thị Hồng T mượn và sử dụng để nhận tiền chuyển khoản của bà Nguyễn Thị Cẩm V. Sau khi bà Nguyễn Thị Cẩm V chuyển khoản, Trần Thị Hồng T yêu cầu Nguyễn Thanh P rút tiền từ tài khoản số 19025960386012 khoảng 05 lần với số tiền tổng cộng là 25.000.000 đồng để đưa cho T. Ngoài ra, Trần Thị Hồng T còn yêu cầu Nguyễn Thanh P đến gặp trực tiếp bà Nguyễn Thị Cẩm V để nhận tiền trả nợ là 8.000.000 đồng. Nguyễn Thanh P không biết nguồn gốc số tiền mà bà Nguyễn Thị Cẩm V đã chuyển vào số tài khoản của mình.
Tại Kết luận giám định số 1417/KLGĐ-TT ngày 31/10/2017 của Phòng K1 Công an Thành phố H thể hiện:
- - Chữ viết nội dung trên hai tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ viết của Trần Thị Hồng T dùng làm mẫu so sánh trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người viết ra.
- - Chữ ký và chữ viết họ tên “Trần Thị Hồng T” trên hai tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký và chữ viết họ tên “Trần Thị Hồng T” dùng làm mẫu so sánh trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người ký và viết ra.
Tại Cáo trạng số 52/CT-VKS-KV1 ngày 01/08/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Trần Thị Hồng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Cáo trạng truy tố Trần Thị Hồng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị mức hình phạt như sau: Từ 03 năm đến 04 năm tù giam. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) biên bản cam kết đề ngày 25/10/2015 đứng tên Trần Thị Hồng T và 01 (một) tờ giấy tập học sinh đề ngày 21/02/2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về điều luật áp dụng: Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam, cơ quan tố tụng sẽ áp dụng quy định của Bộ luật hình sự có hiệu lực tại thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện hoặc thời điểm bị bắt. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 25/10/2015. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để xét xử đối với bị cáo.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 25/10/2015 đến khoảng tháng 06 năm 2016, Trần Thị Hồng T là người không có việc làm, đã có hành vi gian dối, cụ thể là tự xưng bản thân là nữ hộ sinh làm việc tại bệnh viện T2, Thành phố Hồ Chí Minh để xin việc làm cho bà Nguyễn Thị Cẩm V để chiếm đoạt số tiền tổng cộng là 167.265.000 đồng. Như vậy, hành vi của Trần Thị Hồng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[3] Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung tội phạm trong xã hội.
Đối với Nguyễn Thanh P, quá trình điều tra không thừa nhận biết mục đích của việc sử dụng tài khoản ngân hàng số 19025960386012 của Trần Thị Hồng T là để lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của bà Nguyễn Thị Cẩm V. Đồng thời, Nguyễn Thanh P không thừa nhận việc nhận số tiền 50.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Cẩm V mà chỉ thừa nhận đã nhận tiền mặt trực tiếp là 8.000.000 đồng và hồ sơ xin việc tại cổng trường Đại học B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi giao tiền, bà Nguyễn Thị Cẩm V không trao đổi gì về việc nhờ Trần Thị Hồng T xin dùm việc làm nên Nguyễn Thanh P
không biết gì. Sau khi nhận xong tiền, Nguyễn Thanh P đã đưa lại toàn bộ số tiền cho Trần Thị Hồng T kể cả số tiền nhận chuyển khoản từ ngân hàng.
Ngày 26/09/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung về vai trò đồng phạm của Nguyễn Anh P2 trong vụ án. Ngày 17/10/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được công văn cùng toàn bộ hồ sơ vụ án có nội dung thể hiện: “Với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, qua điều tra chưa đủ cơ sở xác định Nguyễn Thanh P biết việc Trần Thị Hồng T chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thị Cẩm V nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở”.
Tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định về Giới hạn của việc xét xử như sau: “Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét đối với hành vi của Nguyễn Thanh P.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra thể hiện bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm V đã nhận đủ số tiền bị chiếm đoạt là 167.265.000 đồng và có đơn bãi nại đối với bị cáo. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Cẩm V vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp bà Nguyễn Thị Cẩm V có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ hình sự:
Bị cáo Trần Thị Hồng T không có tiền án, không có tiền sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 167.265.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Cẩm V. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
[6] Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) biên bản cam kết đề ngày 25/10/2015 đứng tên Trần Thị Hồng T và 01 (một) tờ giấy tập học sinh đề ngày 21/02/2017.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 139, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:
Xử phạt: Trần Thị Hồng T, 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 01 năm 2025.
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025 và Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009:
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) biên bản cam kết đề ngày 25/10/2015 đứng tên Trần Thị Hồng T và 01 (một) tờ giấy tập học sinh đề ngày 21/02/2017.
- Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 172/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 172/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TTHT - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
