|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-02-2025 V/v Ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Dương
- Bà Mai Thị Tám
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi - Thư ký Tòa án án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: không có.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 930/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1977; địa chỉ: số G, đường N, Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Phước H1, sinh năm 1974; hộ khẩu thường trú: số G, Đường F, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: số G, đường N, Khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/CNKH, quyển số 01/99 ngày 13 tháng 09 năm 1999. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020, nguyên đơn và bị đơn phát sinh nhiều mâu thuẩn do bị đơn không chịu tìm việc làm hỗ trợ tài chính cho gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt làm mâu thuẩn ngày càng tăng. Mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do nguyên đơn lo liệu khiến cho tinh thần của nguyên đơn luôn trong trạng thái trầm cảm. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung Nguyễn Lê Nhật L, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000, Nguyễn Lê Nhật L1, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 và Nguyễn Phước L2, sinh ngày 26 tháng 03 năm 2013. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Lê Nhật L1 và Nguyễn Phước L2, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc bà Lê Thị Thanh H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Phước H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do; căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53/CNKH, quyển số 01/99 ngày 13 tháng 9 năm 1999 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thanh H và ông Nguyễn Phước H1 là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng. Tòa án đã nhiều lần động viên nguyên đơn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn từ chối; bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia hòa giải, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn và bị đơn không còn tha thiết với việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm sống, các bên phải quý trọng, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung trong cuộc sống, tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh (bản sao) số 193, quyển số 01/2000 ngày 06 tháng 11 năm 2000, Giấy khai sinh (bản sao) số 82/2013 ngày 05 tháng 04 năm 2013 và Giấy khai sinh (bản sao) số 283, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có ba con chung: Nguyễn Lê Nhật L, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2000, Nguyễn Lê Nhật L1, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 và Nguyễn Phước L2, sinh ngày 26 tháng 03 năm 2013.
Đối với yêu cầu nuôi con của nguyên đơn: Xét thấy, nguyên đơn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Lê Nhật L1 và Nguyễn Phước L2, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã nhiều lần nhận được giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn và con chung, hai trẻ Nguyễn Lê Nhật L1 và Nguyễn Phước L2 có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên việc giao hai con chung Nguyễn Lê Nhật L1 và Nguyễn Phước L2 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: nguyên đơn yêu cầu được tự thỏa thuận với bị đơn về mức cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyên và ý chí của nguyên đơn nên chấp nhận.
Đối với con chung Nguyễn Lê Nhật L sinh năm 2000 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với ông Nguyễn Phước H1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 53/CNKH, quyển số 01/99 ngày 13 tháng 9 năm 1999 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Lê Nhật L1, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2007 và Nguyễn Phước L2, sinh ngày 26 tháng 03 năm 2013 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng; mức cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận.
Ông Nguyễn Phước H1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi dưỡng.
Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Cong chung Nguyễn Lê Nhật L sinh năm 2000 đã trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị Thanh H phải nộp, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0015979 ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Thanh H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
4
Bản án số 172/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 172/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
