Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Tuấn

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 892/2024/TLST- HNGĐ ngày 18/12/2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/3/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1991; HKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Đình T, sinh năm 1991; HKTT và nơi cư trú: Tổ F N, phường Đ, quận H, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Y trình bày: Chị và anh Trần Đình T kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, quận H, tp Hà Nội ngày 04/11/2013. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi cháu sinh con thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 12/2013, chị và anh T ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị Y và anh T có 01 con chung là Trần Đình Q, sinh ngày 02/3/2013. Hiện cháu Q khỏe mạnh, phát triển bình thường, cháu đang ở với anh T và ông bà nội. Hiện tại chị Y xác định không có thai. Ly hôn chị đồng ý để anh T tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Y không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Y tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Bị đơn – anh Trần Đình T đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến.

Ông Trần Đình S, bà Nguyễn Thị H là bố mẹ anh Trần Đình T trình bày: Anh T đang sinh sống cùng vợ chồng ông, bà tại tổ F, N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Anh T và chị Y kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T chung sống với vợ chồng ông bà tại N, Đ. Sau khi chị Y sinh con được 06 tháng thì chị Y tự ý bỏ đi. Anh T và vợ chồng ông bà nhiều lần khuyên chị Y về nhà để chăm sóc con nhưng chị Y không về. Anh T và vợ chồng ông bà chưa bao giờ đuổi đánh chị Y. Nay chị Y xin ly hôn anh T, ông bà đề nghị đây là việc riêng của vợ chồng anh T, chị Y nên anh chị tự giải quyết.

Ông bà xác nhận anh T, chị Y có 01 con chung là cháu Trần Đình Q, sinh ngày 02/3/2013. Hiện cháu đang ở với anh T và ông bà. Do cháu Q ở với anh T và ông bà từ nhỏ nên đề nghị Tòa án giao cháu cho anh T nuôi dưỡng.

Anh T và chị Y không có tài sản chung gì.

Do anh T bận đi làm nên ông bà nhận giao lại văn bản của Tòa án cho anh T.

3. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:

- Chị Y vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn anh T. Về con chung: Chị Y đồng ý giao con cho anh T nuôi và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Lê Thị Y được ly hôn anh Trần Đình T; Về con chung: Giao anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận chị Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho anh T là 1.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét; về án phí nguyên đơn chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Đình T cư trú tại Tổ F N, phường Đ, quận H, Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Y và anh Trần Đình T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn UBND phường Đ, quận H, tp Hà Nội ngày 04/11/2013 nên hôn nhân giữa chị Y và anh T là hôn nhân hợp pháp. Trên cơ sở lời khai của chị Y và bố mẹ anh T cho thấy: Chị Y và anh T phát sinh mâu thuẫn từ khi chị Y sinh con, chị Y đã về nhà bố mẹ sinh sống từ tháng 12/2013, chị Y và anh T ly thân từ đó đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến, không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, tại phiên tòa chị Y vẫn kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Y và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Y xin ly hôn anh T phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Chị Y và anh T có 01 con chung là Trần Đình Q, sinh ngày 02/3/2013.

Xét việc xin nuôi con chung thấy: Cháu Q có nguyện vọng ở với bố là anh T, cháu ở với anh T và ông bà nội từ nhỏ đến nay. Trên cơ sở xem xét điều kiện đảm bảo nuôi dưỡng con chung, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các con chung cần giao con chung cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị Y có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Y cấp dưỡng nuôi con cho anh T là 1.000.000 đồng/tháng.

[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.5]. Về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Y được ly hôn anh Trần Đình T.

2. Về con chung: Chị Y và anh T có 01 con chung là Trần Đình Q, sinh ngày 02/3/2013.

Giao anh Trần Đình T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đình Q, sinh ngày 02/3/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Chị Lê Thị Y có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T là 1.000.000 đồng/tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Y và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Lê Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0044627 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Tp ..

6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Đình T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt/ niêm yết lệ.

Nơi nhận

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - UBND xã, phường nơi thực hiện ĐKKH;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 172/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger