Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – HUẾ

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 172/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06/10/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Hòa và ông Phan Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Ân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Huế (Số E, phường H, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 18/8/2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐ-ST ngày 08/9/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C năm 1965; địa chỉ: Thôn G, phường K, thành phố H Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Hồ Đức H năm: 1963; địa chỉ: Thôn G, phường K, thành phố H Vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 8 năm 2025 của bà Nguyễn Thị C1 cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C1 và ông Hồ Đức H1 nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân từ ngày 09/7/1985 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường K, thành phố H 24/10/2024. Vợ chồng sau khi cưới có thời gian chung sống hạnh phúc và sinh được 03 người con chung. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, từ năm 2005 bà C2 hiện ông Hồ Đức H2 tình cảm với người phụ nữ khác nên cuộc sống vợ chồng càng trở nên căng thẳng, không khí gia đình đã quá ngột ngạt, nặng nề. Bởi vậy, bà C3 vào Thành phố Hồ Chí Minh sống cùng với con gái nên giữa hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Hồ Đức Huỳnh .

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là: Hồ Đức L, sinh ngày 21/10/1986; Hồ Đức L1sinh ngày 08/09/1988; Hồ Thị Quỳnh N ngày 19/08/1995. Do cả 03 người con chung của ông bà đều đã trưởng thành và có cuộc sống ổn định riêng nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ sau: Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Căn cước công dân của bà Nguyễn Thị C4 Hồ Thị Quỳnh NBản phô tô Căn cước công dân của ông Hồ Đức Hông Hồ Đức L1 Hồ Đức L1

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; giấy triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định pháp luật về việc bà C5 ly hôn nhưng ông Hồ Đức H3 đều vắng mặt. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và tiến hành hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự.

Ngày 04 tháng 9 năm 2025, Ông Hồ Đức H3 có nộp bản tự khai trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông H trình bày về quan hệ hôn nhân như đơn khởi kiện của bà C6 ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bị đơn thống nhất như bà C7, vợ chồng có 03 con chung là: Hồ Đức L, sinh ngày 21/10/1986; Hồ Đức L1sinh ngày 08/09/1988; Hồ Thị Quỳnh N ngày 19/08/1995.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông H đồng ý với ý kiến của bà C, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn, Ủy ban nhân dân phường K biết:

Ông Hồ Đức H4 bà Nguyễn Thị C8 địa chỉ thường trú tại thôn G, phường H, thành phố H Ccó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế(nay là Ủy ban nhân dân phường K HQuá trình chung sống ông H4 bà C8 xảy ra mâu thuẫn do bà C9 rằng ông H2 tình cảm với người khác. Gia đình có hòa giải nhưng không thành nên hiện nay bà C10 ly thân với ông H4 đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh cùng con gái.

Ngày 19/9/2025, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 06/10/2025, đồng thời tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định.

Tại phiên Tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm:

Về kiểm sát tuân theo pháp luật về tố tụng và về nội dung giải quyết vụ án, tại phiên tòa Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Huế có ý kiến như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng trong vụ án đều tuân theo pháp luật tố tụng dân sự không vi phạm gì cần phải kiến nghị để khắc phục. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không lý do là không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự, nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Ttuyên xử, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị C1 khởi kiện ly hôn với ông Hồ Đức Huỳnh .Bà C và ông H đều có địa chỉ cư trú tại phường K, thành phố H, Tòa án nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố H và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Theo Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bởi vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét, giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị C1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Hồ Đức H3 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà C11 ông H5

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị C1 và ông Hồ Đức H1 nguyện tìm hiểu, xác lập quan hệ hôn nhân từ ngày 09/7/1985 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là phường K, thành phố H 24/10/2024. Vợ chồng sau khi cưới có thời gian chung sống hạnh phúc và sinh được 03 người con chung. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng càng về sau càng xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, từ năm 2005 bà C2 hiện ông Hồ Đức H2 tình cảm với người phụ nữ khác nên cuộc sống vợ chồng càng trở nên căng thẳng, không khí gia đình đã quá ngột ngạt, nặng nề. Bởi vậy, bà C3 vào Thành phố Hồ Chí Minh sống cùng với con gái nên giữa hai người đã sống ly thân từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn vợ chồng tràm trọng nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Hồ Đức Huỳnh .

Xét thấy: Mâu thuẫn tình cảm giữa bà C và ông H đã trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã triệu tập tham gia phiên hòa giải nhưng ông H6 mặt, bà C có đơn đề nghị không tiếp tục hòa giải. Chứng tỏ, ông bà không có thiện chí hàn gắn tình cảm khiến cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận cho bà Nguyễn Thị C1 ly hôn với ông Hồ Đức Huỳnh .

- Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là: Hồ Đức Lsinh ngày 21/10/1986; Hồ Đức L1sinh ngày 08/09/1988; Hồ Thị Quỳnh N ngày 19/08/1995. Do cả 03 người con chung của ông bà đều đã trưởng thành và có cuộc sống ổn định riêng nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà C và ông H7 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị C1 phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án.

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C1.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị C1 được ly hôn với ông Hồ Đức Huỳnh .
  2. Về con chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000109 ngày 18/8/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Huế; bà C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND khu vực 3-Huế;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Kim Trà, thành phố Huế.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2025/HNGĐ-ST ngày 06/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 172/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger