|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2025/DS-PT Ngày 12/6/2025 V/v “Tranh chấp QSDĐ, quyền Cấp thoát nước qua BĐS liền kề” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha
Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Phương Bình - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2025/TLPT-DS ngày 2 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 117/2025/QĐ-PT ngày 9 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang N, sinh năm 1957 (có mặt)
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Dư Văn L, sinh năm 1943 (vắng mặt)
- 2.2. Bà Trương Thị H1, sinh năm 1957 (có mặt)
- 2.3. Ông Lâm Văn M, sinh năm 1971 (có mặt)
- 2.4. Ông Lê Ngọc L1, sinh năm 1963 (có mặt)
- 2.5. Ông Huỳnh P2, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Người đại diện ủy quyền cho ông N: Anh Dư Phướng H, sinh năm 1988 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964 (có mặt)
- 3.2. Anh Trần Trung L2, sinh năm 1989 (có mặt)
- 3.3. Chị Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1995 (có mặt)
- 3.4. Anh Dư Phướng H, sinh năm 1988 (có mặt)
- 3.5. Chị Nguyễn Thúy H2, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng)
- 3.6. Anh Nguyễn Trường T, sinh năm 2006 (có đơn xin vắng)
- 3.7. Bà Huỳnh Ngọc M1, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- 3.8. Chị Lâm Ngọc X, sinh năm 2000 (có đơn xin vắng)
- 3.9. Anh Lâm Ngọc H3, sinh năm 2003 (có đơn xin vắng)
- 3.10. Bà Lê Thị K, sinh năm 1965 (có mặt)
- 3.11. Anh Lê Hoàng V, sinh năm 1990 (có mặt)
- 3.12. Chị Lưu Thị Cẩm L3, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng)
- 3.13. Bà Chiêm Thị P, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- 3.14. Anh Huỳnh Ngọc B, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng)
- 3.15. Anh Huỳnh Bửu T1, sinh năm 1999 (có đơn xin vắng)
- 3.16. Chị Nguyễn Hồng X1, sinh năm 2006 (có đơn xin vắng)
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Người kháng cáo: Ông Dư Văn L, bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Huỳnh P2.
- Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Quang N trình bày:
Năm 1993 ông nhận chuyển nhượng phần diện tích đất biền lá (theo tờ nhượng quyền đất ngày 10-4-1993) ngang cặp lộ 13m50, dài 46m50, ngang cặp sông Cái Bé là 10m50, tổng diện tích là 558m² của ông Nguyễn Văn Đ cùng ngụ ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Ngay sau khi san lấp mặt bằng làm thổ cư thì hộ ông Lưu Văn K1 lấn sang phần đất của ông N nên ông khiếu nại đến địa chính huyện. Sau khi cán bộ địa chính huyện tiến hành đo đạc, xác minh thì Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C ban hành quyết định số 326/1999/QĐ-UB ngày 12-10-1999 giữ nguyên diện tích đất của ông ngang cặp lộ là 13m50, dài 46m50, ngang cặp sông Cái Bé là 10m50, tổng diện tích là 558m² theo chuyển nhượng lúc ban đầu. Sau đó, ông K1 khiếu nại lên UBND tỉnh K được cán bộ thanh tra tỉnh xuống đo đạc, xác minh và Chánh thanh tra tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 12/QĐ-TTr ngày 01/02/2000 giữ nguyên hiện trạng đất ngang cặp lộ 13m50, dài 46m50, ngang cặp sông Cái Bé là 10m50 cho hộ ông N. Trong lúc này thì 05 hộ dân liền kề bên hướng Bắc giáp ranh đất lại lấn sang 1m x 25m, cụ thể như sau: Ông Dư Văn L (ngang 1m, dài 4,80m); bà Trương Thị H1 (ngang 1m, dài 5,05m); ông Lâm Văn M (ngang 1m, dài 5,15m); ông Lê Ngọc L1 (ngang 1m, dài 4,50m) và ông Huỳnh P2 (ngang 1m, dài 5,52m). Ông N tiếp tục khiếu nại đến UBND xã B, vụ việc hòa giải không thành, ông gửi đơn đến UBND huyện C và Ủy ban ra
Quyết định số 1012/QĐ-UBND ngày 25-3-2020. Ông N không đồng ý với quyết định trên và tiếp tục khiếu nại đến Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, sau khi đối thoại thì UBND huyện C đã ban hành quyết định số 3687/QĐ-UBND với nội dung hủy bỏ quyết định số 1012/QĐ-UBND ngày 25-3-2020 vì không thuộc thẩm quyền giải quyết, ông N tiếp tục khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
Tại đơn khởi kiện ông N yêu cầu Tòa án xem xét buộc các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm cho ông theo Quyết định số 12/QĐ-TTr ngày 01-02-2000 của Chánh Thanh tra tỉnh Kiên Giang đã ban hành và có hiệu lực như sau: Ông Dư Văn L (ngang 1m, dài 4,80m); bà Trương Thị H1 (ngang 1m, dài 5,05m); ông Lâm Văn M (ngang 1m, dài 5,15m); ông Lê Ngọc L1 (ngang 1m, dài 4,50m) và ông Huỳnh P2 (ngang 1m, dài 5,52m).
Nay ông N đồng ý giữ nguyên hiện trạng diện tích đất của các bị đơn và diện tích đất của ông theo đo đạc thực tế tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 199-2023 (Tách 133,134-9) ngày 04-8-2023, ông không yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm của ông theo đơn khởi kiện ban đầu. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án công nhận phần đất theo đo đạc thực tế có tổng diện tích là 488,1m² thuộc thửa 134 theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Ông N không đồng ý mở đường thoát nước thải sinh hoạt theo yêu cầu của các bị đơn.
Bị đơn ông Dư Văn L trình bày:
Năm 2001 ông có mua nền nhà tại khu chợ Lô 7 của ông Giang Văn T2 tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang, diện tích ngang 4,80m, chiều dài 17,30m tới mương bến và hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, hai bên thỏa thuận với nhau bằng giấy tay (hiện nay giấy tay đã bị thất lạc). Sau khi mua xong ông L có xây dựng nhà và có trừ lại phía sau nhà ngang 0,5m để làm đường thoát nước và liền kề cũng có đường thoát nước từ trước ở khu chợ. Phần đất của ông giáp với đường mương bến công cộng của Nhà nước rồi mới tới giáp đất của ông N. Tuy nhiên, gia đình ông sử dụng đúng diện tích đất và khi xây dựng nhà thì không ai tranh chấp. Ông L xác nhận con mương công cộng rộng khoảng 0,5m này đã hình thành từ lâu trước thời điểm Nhà nước thành lập chợ L6 7 cho đến khi các hộ dân về cất nhà ở thì con mương này vẫn tiếp tục sử dụng. Việc ông N cho rằng con mương này là của ông N là không đúng mà là con mương công cộng của Nhà nước. Ông N cho rằng ông lấn chiếm đất ông N với diện tích ngang 1m, dài 4,80m thì ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông N.
Nay ông L yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận diện tích đất chiều ngang trước là 4,60m, ngang sau là 4,77m, chiều dài giáp nhà ông Lê Ngọc L1 là 17,71m, chiều dài giáp nhà ông Huỳnh P2 là 17,70m, tổng diện tích là 82,9m² tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Đồng thời, yêu cầu ông N mở đường thoát nước thải sinh hoạt ngang 0,5m chạy dài từ nhà ông cho đến bờ sông Cái Bé.
Bị đơn bà Trương Thị H1 trình bày:
Năm 1989 bà có mua 02 nền đất lô của ông Lư Văn L4, diện tích ngang 10,20m, dài 17,30m tới mương bến, tọa lạc tại khu chợ L6 7 thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (mua bán giấy tay hiện nay đã thất lạc). Đến năm 1991, bà xây dựng nhà 01 lô với diện tích ngang 5,05m, dài 17,30m, khi xây dựng nhà bà có trừ lại diện tích khoảng 0,5m để làm đường thoát nước, đến nay phần đất này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Đến năm 1998 bà H1 có chuyển nhượng 01 lô còn lại cho bà Huỳnh Thị H4 với diện tích 5,15m, dài 17,30m. Phần đất của bà giáp với đường mương bến công cộng của Nhà nước rồi mới tới giáp đất của ông N. Gia đình bà sử dụng đúng diện tích đất và khi xây dựng nhà thì không ai tranh chấp. Bà H1 xác nhận con mương công cộng rộng khoảng 0,5m này đã hình thành từ lâu, trước thời điểm Nhà nước thành lập chợ lô 7 cho đến khi các hộ dân về cất nhà ở thì con mương này vẫn tiếp tục sử dụng. Việc ông N cho rằng con mương này là của ông N là không đúng mà là con mương công cộng của Nhà nước. Ông N cho rằng bà lấn chiếm đất ông N với diện tích ngang 1m, dài 5,05m thì bà không đồng ý vì bà không có lấn chiếm đất của ông N.
Nay bà H1 yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận diện tích đất chiều ngang trước là 4,80m, ngang sau là 5,07m, chiều dài giáp đất ông Lâm N1 là 17,15m, chiều dài giáp nhà ông Lâm Văn M là 17,77m, tổng diện tích là 86,0m² tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà. Đồng thời, yêu cầu ông N mở đường thoát nước thải sinh hoạt ngang 0,5m chạy dài từ nhà bà cho đến bờ sông Cái Bé.
Bị đơn ông Lâm Văn M trình bày:
Năm 1998 mẹ ông là bà Huỳnh Thị H4 mua đất của bà Trương Thị H1 với diện tích ngang 5,15m, dài 17,30m tới mương bến, tọa lạc tại khu chợ L6 7 thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (mua bán giấy tay hiện nay đã thất lạc). Đến năm 2006 mẹ ông cho lại vợ chồng ông phần đất này để cất nhà ở, khi xây dựng nhà không ai tranh chấp và ông có trừ lại diện tích khoảng 0,5m để làm đường thoát nước, khi mua phần đất này cũng như đến nay phần đất này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Phần đất của ông giáp với đường mương bến công cộng của Nhà nước rồi mới tới giáp đất của ông N. Ông M xác nhận con mương công cộng rộng khoảng 0,5m này đã hình thành từ lâu trước thời điểm Nhà nước thành lập chợ lô 7 cho đến khi các hộ dân về cất nhà ở thì con mương này vẫn tiếp tục sử dụng. Việc ông N cho rằng con mương này là của ông N là không đúng mà là con mương công cộng của Nhà nước. Ông N cho rằng ông lấn chiếm đất ông N với diện tích ngang 1m, dài 5,15m thì ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông N.
Nay ông M yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận diện tích đất chiều ngang trước là 4,30m, ngang sau là 5,51m, chiều dài giáp nhà bà Trương Thị H1 là 17,77m, chiều dài giáp nhà ông Lê Ngọc L1 là 17,74m, tổng diện tích là 87,0m² tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Đồng thời, yêu cầu ông N mở đường thoát nước thải sinh hoạt ngang 0,5m chạy dài từ nhà ông cho đến bờ sông Cái Bé.
Bị đơn ông Lê Ngọc L1 trình bày:
Năm 1987 ông được Nhà nước (UBND xã B đại diện) cấp cho ông diện tích đất ngang 4,50m, dài 17,30m tới mương bến, tọa lạc tại khu chợ L6 7 thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (hiện nay hồ sơ cấp đất đã thất lạc không còn giữ). Đến năm 1987 ông xây dựng nhà ở không ai tranh chấp. Mặt khác, khi xây dựng nhà ông có trừ lại diện tích khoảng 0,5m để làm đường thoát nước, đất của ông hiện nay vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Phần đất của ông giáp với đường mương bến công cộng của Nhà nước rồi mới tới giáp đất của ông N. Ông L1 xác nhận con mương công cộng rộng khoảng 0,5m này đã hình thành từ lâu, trước thời điểm Nhà nước thành lập chợ lô 7 cho đến khi các hộ dân về cất nhà ở thì con mương này vẫn tiếp tục sử dụng. Việc ông N cho rằng con mương này là của ông N là không đúng mà là con mương công cộng của Nhà nước. Ông N cho rằng ông lấn chiếm đất ông N với diện tích ngang 1m, dài 4,50m thì ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông N.
Nay ông L1 yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận diện tích đất chiều ngang trước là 4,50m, ngang sau là 4,42m, chiều dài giáp nhà ông Lâm Văn M là 17,74m, chiều dài giáp nhà ông Dư Văn L là 17,71m, tổng diện tích là 79,0m² tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Đồng thời, yêu cầu ông N mở đường thoát nước thải sinh hoạt ngang 0,5m chạy dài từ nhà ông cho đến bờ sông Cái Bé.
Bị đơn ông Huỳnh P2 trình bày tại Tòa án:
Năm 1998 mẹ vợ ông mua của ông Trương Văn B1 với diện tích ngang 5,52m, dài 17,30m tới mương bến, tọa lạc tại khu chợ L6 7 thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang (mua bán giấy tay hiện nay đã thất lạc). Đến năm 1999 mẹ vợ cho lại vợ chồng ông phần đất này để cất nhà ở, khi xây dựng nhà không ai tranh chấp và ông có trừ lại diện tích khoảng 0,5m để làm đường thoát nước, hiện nay phần đất này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Phần đất của ông giáp với đường mương bến công cộng của Nhà nước rồi mới tới giáp đất của ông N. Ông P2 xác nhận con mương công cộng rộng khoảng 0,5m này đã hình thành từ lâu, trước thời điểm Nhà nước thành lập chợ lô 7 cho đến khi các hộ dân về cất nhà ở thì con mương này vẫn tiếp tục sử dụng. Việc ông N cho rằng con mương này là của ông N là không đúng mà là con mương công cộng của Nhà nước. Ông N cho rằng ông lấn chiếm đất ông N với diện tích ngang 1m, dài 5,52m thì ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông N.
Nay ông P2 yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận diện tích đất chiều ngang trước là 5,40m, ngang sau là 5,53m, chiều dài giáp nhà ông Dư Văn L là 17,70m, chiều dài giáp sông Cái Bé là 17,60m, tổng diện tích là 96,5m² tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Đồng thời, yêu cầu ông N mở đường thoát nước thải sinh hoạt ngang 0,5m chạy dài từ nhà tôi cho đến bờ sông Cái Bé.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D, anh Trần Trung L2, chị Nguyễn Ngọc Y trình bày:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông Trần Quang N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dư Phướng H trình bày:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông Dư Văn L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thúy H2 và anh Nguyễn Trường T trình bày tại Tòa án:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của bà Trương Thị H1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị K, chị Lưu Thị Cẩm L3 và anh Lê Hoàng V trình bày tại Tòa án:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông Lê Ngọc L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc M1, anh Lâm Ngọc H3 và chị Lâm Ngọc X trình bày tại Tòa án:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông Lâm Văn M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Chiêm Thị P, chị Nguyễn Hồng X1, anh Huỳnh Bửu T1 và anh Huỳnh Ngọc B trình bày tại Tòa án:
Thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông Huỳnh P2.
Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Trần Quang N.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 488,1m² thuộc thửa 134, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Trần Quang N, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 2,15,16, 17, 18, 19, 13, 11, 9, 7, 5, 3, 2, cụ thể như sau:
- Từ điểm 2-15 = 9,94m giáp sông Cái Bé;
- Từ điểm 15-16 = 42,84m giáp đất Trần Bé N2;
- Từ điểm 16-17= 9,59m giáp đường bê tông R: 2,5m;
- Từ điểm 17-18 = 4,08m giáp đường bê tông R: 2,5m;
- Từ điểm 18-19= 8,39 m giáp đất Hồ G;
- Từ điểm 19-13= 4,92m giáp đất Mai Thanh P1;
- Từ điểm 13-11= 5,19m giáp đất L;
- Từ điểm 11-09= 5,07m giáp đất Trương Thị H1;
- Từ điểm 09-07= 5,51m giáp đất Lâm Văn M;
- Từ điểm 07-05= 4,42m giáp đất Lê Ngọc L1;
- Từ điểm 05-03= 4,77m giáp đất Dư Văn L;
- Từ điểm 03-02= 5,53m giáp đất Huỳnh P2.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang N về việc yêu cầu các bị đơn trả lại cho ông phần đất lấn chiếm như sau: Ông Dư Văn L (ngang 1m, dài 4,80m); bà Trương Thị H1 (ngang 1m, dài 5,05m); ông Lâm Văn M (ngang 1m, dài 5,15m); ông Lê Ngọc L1 (ngang 1m, dài 4,50m) và ông Huỳnh P2 (ngang 1m, dài 5,52m).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Văn L5, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 86m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ bà Trương Thị H1, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 10, 9, 11, 12, 10, cụ thể như sau:
- Từ điểm 10-9 = 17,77m giáp đất ông Lâm Văn M;
- Từ điểm 9-11 = 5,07m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 11-12 = 17,15m giáp đất ông Lâm N1;
- Từ điểm 12-10 = 4,80m giáp mặt bằng chợ L6 7.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 87m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Lâm Văn M, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 8, 7, 9, 10, 8, cụ thể như sau:
- Từ điểm 8-7= 17,74m giáp đất ông Lê Ngọc L1;
- Từ điểm 7-9= 5,51m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 9-10= 17,15m giáp đất bà Trương Thị H1;
- Từ điểm 10-8= 4,30m giáp mặt bằng chợ L6 7.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 79m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, toạc lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng của hộ ông Lê Ngọc L1, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 6, 5, 7, 8, 6, cụ thể như sau:
- Từ điểm 6-5= 17,71m giáp đất ông Dư Văn L;
- Từ điểm 5-7= 4,42m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 7-8= 17,74m giáp đất ông Lâm Văn M;
- Từ điểm 8-6= 4,50m giáp mặt bằng chợ L6 7.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 82,9m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Dư Văn L, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 4, 3, 5, 6, 4, cụ thể như sau:
- Từ điểm 4-3= 17,70m giáp đất ông Huỳnh P2;
- Từ điểm 3-5= 4,77m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 5-6= 17,71m giáp đất ông Lê Văn L5;
- Từ điểm 6-4= 4,60m giáp mặt bằng chợ L6 7.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 và ngày 06-11-2024 của Tòa án có tổng diện tích là 96,5m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Huỳnh P2, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 và số TĐ: 705-2024 ngày 25-11-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1, cụ thể như sau:
- Từ điểm 1-2= 17,60m giáp sông Cái Bé;
- Từ điểm 2-3= 5,53m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 3-4= 17,70m giáp đất ông Dư Văn L;
- Từ điểm 4-1= 5,40m giáp mặt bằng chợ L6 7.
4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của đồng bị đơn về việc yêu cầu ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt trên phần đất của gia đình ông N với diện tích ngang 0,5m chạy dài từ nhà các bị đơn cho đến bờ sông Cái Bé.
Buộc đồng bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 phải tự mở đường nước để xả nước thải ra cống thoát nước chung trước nhà các bị đơn. Chấm dứt việc xả nước thải sang phần đất của hộ ông Trần Quang N tại thửa đất 134, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Khi án có hiệu lực pháp luật và ông Trần Quang N có đơn yêu cầu thi hành án thì bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 phải tự mở đường nước để xả nước thải, chấm dứt việc xả nước thải sang phần đất của hộ ông Trần Quang N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, các bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 có đơn kháng cáo sửa bản án sơ thẩm với nội dung:
Buộc ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt chiều ngang 0,5m chiều dài từ nhà các bị đơn đến Sông C.
Ngày 14 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS đề nghị sửa bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án huyện Châu Thành theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn ông Trần Quang N không đồng ý với kháng cáo của các bị đơn, kháng nghị của Viện kiểm sát, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không tự hòa giải với nhau được, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến kết luận vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nội dung kháng nghị, kháng cáo của các bị đơn có căn cứ xem xét. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Quang N yêu cầu các bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 trả lại quyền sử dụng đất, chấm dứt hành vi thả chất thải qua phần đất của nguyên đơn. Các bị đơn có yêu cầu phản tố buộc ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt chiều ngang 0,5m chiều dài từ nhà các bị đơn đến Sông C. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền về cấp thoát nước qua bất động sản liền kề” là phù hợp quy định của pháp luật.
[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:
Bị đơn ông Dư Văn L vắng mặt có văn bản ủy quyền cho anh Dư Phướng H tham gia phiên tòa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hồng X1, anh Huỳnh Bửu T1, anh Huỳnh Ngọc B, bà Chiêm Thị P, chị Lưu Thị Cẩm L3, anh Lê Hoàng V, bà Lê Thị K, anh Lâm Ngọc H3, chị Lâm Ngọc X, bà Huỳnh Ngọc M1, chị Nguyễn Thúy H2, anh Nguyễn Trường T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Trần Quang N yêu cầu Tòa án xem xét buộc đồng bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm cho ông như sau: Ông Dư Văn L (ngang 1m, dài 4,80m); bà Trương Thị H1 (ngang 1m, dài 5,05m); ông Lâm Văn M (ngang 1m, dài 5,15m); ông Lê Ngọc L1 (ngang 1m, dài 4,50m) và ông Huỳnh P2 (ngang 1m, dài 5,52m). Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Trần Quang N có đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và rút lại một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Ông N đồng ý chấp nhận phần đất của ông theo hiện trạng đo đạc thực tế là 488,1m². Ông không yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm của ông theo đơn khởi kiện ban đầu. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án giữ nguyên hiện trạng và công nhận phần đất theo đo đạc thực tế có tổng diện tích là 488,1m² thuộc thửa 134 theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Ngoài ra, ông không đồng ý mở đường thoát nước thải sinh hoạt theo yêu cầu của đồng bị đơn và yêu cầu đồng bị đơn chấm dứt hành vi xả nước thải qua phần đất gia đình ông.
Các bị đơn có yêu cầu phản tố buộc ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt chiều ngang 0,5m chiều dài từ nhà các bị đơn đến Sông C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Diện tích 12,6m², các bị đơn phản tố yêu cầu làm đường thoát nước thải sinh hoạt nằm trong diện tích là 488,1m² thuộc thửa 134 theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023, đất tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang, do ông Trần Quang N quản lý sử dụng, nguồn gốc đất của ông Trần Quang N nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Đ diện tích 558m² (chiều ngang cặp lộ 13,50m, chiều ngang cặp sông Cái Bé 10,50m, dài 46,50m) hai bên viết giấy tay vào năm 1993, ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (CNQSD) đất. Theo đo đạc thực tế diện tích đất của ông N là 448,1m², hiện nay ông N vẫn chưa được cấp giấy CNQSD đất.
Xét yêu kháng cáo của đồng bị đơn: Ông Dư Văn L, bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1 và ông Huỳnh P2 yêu cầu ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt trên phần đất của gia đình ông N với diện tích ngang 0,5m chạy dài từ nhà đồng bị đơn cho đến bờ sông Cái Bé, Tòa án nhận thấy:
Qua đo đạc thực tế phần đất đồng bị đơn đang sử dụng theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C có diện tích cụ thể như sau:
Phần đất của bà Trương Thị H1 ở vị trí số 2 có tổng diện tích 86m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, được giới hạn bởi các điểm 10, 9,11,12,10: Phần đất của ông Lâm Văn M ở vị trí số 3 có tổng diện tích 87m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, được giới hạn bởi các điểm 8, 7, 9, 10, 8: Phần đất của ông Lê Ngọc L1 ở vị trí số 4 có tổng diện tích 79m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, được giới hạn bởi các điểm 6, 5, 7, 8, 6: Phần đất của ông Dư Văn L ở vị trí số 5 có tổng diện tích 82,9m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, được giới hạn bởi các điểm 4, 3, 5, 6, 4: Phần đất của ông Huỳnh P2 ở vị trí số 6 có tổng diện tích 96,5m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1: Đồng bị đơn trình bày khi xây dựng nhà đồng bị đơn có trừ lại diện tích khoảng 0,5m để làm đường thoát nước. Nhưng qua đo đạc hiện trạng căn nhà của đồng bị đơn thì chiều dài các cạnh nhiều hơn so với chiều dài thực tế đồng bị đơn chuyển nhượng. Do đó, các bị đơn nói khi cất nhà trừ ra 0,5m để làm đường thoát nước là không có căn cứ để xem xét.
Tại Công văn số 07/CV-UBND ngày 12-3-2024 của UBND xã B đã xác định như sau: “Khu vực trước nhà của 5 hộ gồm: Bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh Phát hiện N3 có rãnh thoát nước chung (nước mưa) mặt bằng chợ lô 7...”.
Theo Điều 251 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Chủ sở hữu nhà, công trình xây dựng khác phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi sinh hoạt công cộng...”.
Do đó, Toà sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu mở đường nước thải sinh hoạt của đồng bị đơn chảy qua phần đất của ông N là có căn cứ, đúng quy định. Bởi vì, không phải chỉ có một đường thoát nước thải duy nhất là chảy qua phần đất của ông N mà phía trước nhà của đồng bị đơn là mặt bằng chợ L6 7 còn có cống rãnh thoát nước chung nên đồng bị đơn có thể tự đặt đường ống dẫn nước thải ra phía trước nhà dẫn xuống sông Cái Bé, hoặc tự đặt đường ống dẫn nước thải ra phía sau nằm trong diện tích đất của đồng bị đơn được công nhận từ nhà ông Huỳnh Tấn P2 làm đường ống thoát nước thải xuống sông Cái Bé mà không phải chảy qua phần đất của ông N.
Từ những phân tích và nhận định trên HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị đơn về yêu cầu mở đường nước thải sinh hoạt của đồng bị đơn chảy qua phần đất của ông Trần Quang N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị đơn không đưa ra được tình tiết, chứng cứ để chứng minh việc kháng cáo của ông, bà là có căn cứ. Do đó, các bị đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành là không có căn cứ để chấp nhận.
Kháng nghị của Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của HĐXX phúc thẩm nên không được chấp nhận.
Vì vậy, sau khi thảo thuận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, không chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát, và nội dung kháng cáo của các bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2. Giử nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Tuy nhiên bản án sơ thẩm tuyên vị trí, số đo của các thửa đất không đúng với số đo của tờ trích đo Địa chính nên cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Đây lổi số liệu không cần sửa án. Nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[2] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận một phần, yêu cầu phản tố của đồng bị đơn được chấp nhận nên các đồng bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của các bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Đối với tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 4.547.124 đồng; Phí thẩm định giá là 3.300.000 đồng. Tổng cộng là 7.847.124 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang N được chấp nhận một phần, ông N phải chịu toàn bộ số tiền trên. Ông N đã nộp xong.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 100, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát huyện C,
Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Trần Quang N.
Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 488,1m² thuộc thửa 134, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Trần Quang N, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 2,15,16, 17, 18, 19, 13, 11, 9, 7, 5, 3, 2, cụ thể như sau:
- Từ điểm 2-15 = 9,94m giáp sông Cái Bé;
- Từ điểm 15-16 = 42,84m giáp đất Trần Bé N2;
- Từ điểm 16-17= 9,59m giáp đường bê tông R: 2,5m;
- Từ điểm 17-18 = 4,08m giáp đường bê tông R: 2,5m;
- Từ điểm 18-19= 8,39 m giáp đất Hồ G;
- Từ điểm 19-13= 4,92m giáp đất Mai Thanh P1;
- Từ điểm 13-11= 5,19m giáp đất L;
- Từ điểm 11-09= 5,07m giáp đất Trương Thị H1;
- Từ điểm 09-07= 5,51m giáp đất Lâm Văn M;
- Từ điểm 07-05= 4,42m giáp đất Lê Ngọc L1;
- Từ điểm 05-03= 4,77m giáp đất Dư Văn L;
- Từ điểm 03-02= 5,53m giáp đất Huỳnh P2.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Quang N về việc yêu cầu các bị đơn trả lại cho ông phần đất lấn chiếm như sau: Ông Dư Văn L (ngang 1m, dài 4,80m); bà Trương Thị H1 (ngang 1m, dài 5,05m); ông Lâm Văn M (ngang 1m, dài 5,15m); ông Lê Ngọc L1 (ngang 1m, dài 4,50m) và ông Huỳnh P2 (ngang 1m, dài 5,52m).
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Văn L5, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 86m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ bà Trương Thị H1, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 10, 9, 11, 12, 10, cụ thể như sau:
- Từ điểm 10-9 = 17,77m giáp đất ông Lâm Văn M;
- Từ điểm 9-11 = 5,07m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 11-12 = 17,15m giáp đất ông Lâm N1;
- Từ điểm 12-10 = 4,80m giáp mặt bằng chợ L6 7.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 87m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Lâm Văn M, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 8, 7, 9, 10, 8, cụ thể như sau:
- Từ điểm 8-7= 17,74m giáp đất ông Lê Ngọc L1;
- Từ điểm 7-9= 5,51m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 9-10= 17,15m giáp đất bà Trương Thị H1;
- Từ điểm 10-8= 4,30m giáp mặt bằng chợ L6 7.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 79m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, toạc lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng của hộ ông Lê Ngọc L1, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 6, 5, 7, 8, 6, cụ thể như sau:
- Từ điểm 6-5= 17,71m giáp đất ông Dư Văn L;
- Từ điểm 5-7= 4,42m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 7-8= 17,74m giáp đất ông Lâm Văn M;
- Từ điểm 8-6= 4,50m giáp mặt bằng chợ L6 7.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 82,9m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Dư Văn L, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 4, 3, 5, 6, 4, cụ thể như sau:
- Từ điểm 4-3= 17,70m giáp đất ông Huỳnh P2;
- Từ điểm 3-5= 4,77m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 5-6= 17,71m giáp đất ông Lê Văn L5;
- Từ điểm 6-4= 4,60m giáp mặt bằng chợ L6 7.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 96,5m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ ông Huỳnh P2,Theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1, cụ thể như sau:
- Từ điểm 1-2= 17,60m giáp sông Cái Bé;
- Từ điểm 2-3= 5,53m giáp đất ông Trần Quang N;
- Từ điểm 3-4= 17,70m giáp đất ông Dư Văn L;
- Từ điểm 4-1= 5,40m giáp mặt bằng chợ L6 7.
- Giữ nguyên hiện trạng phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế ngày 15-3-2023 của Tòa án có tổng diện tích là 86m² thuộc tách thửa 133, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sử dụng của hộ bà Trương Thị H1, theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện C, được giới hạn bởi các điểm 10, 9, 11, 12, 10, cụ thể như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của đồng bị đơn về việc yêu cầu ông Trần Quang N mở đường thoát nước thải sinh hoạt trên phần đất của gia đình ông N với diện tích ngang 0,5m chạy dài từ nhà các bị đơn cho đến bờ sông Cái Bé.
- Buộc đồng bị đơn bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 phải tự mở đường nước để xả nước thải ra cống thoát nước chung trước nhà các bị đơn. Chấm dứt việc xả nước thải sang phần đất của hộ ông Trần Quang N tại thửa đất 134, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
- Khi án có hiệu lực pháp luật và ông Trần Quang N có đơn yêu cầu thi hành án thì bà Trương Thị H1, ông Lâm Văn M, ông Lê Ngọc L1, ông Dư Văn L và ông Huỳnh P2 phải tự mở đường nước để xả nước thải, chấm dứt việc xả nước thải sang phần đất của hộ ông Trần Quang N.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trương Thị H1, ông Dư Văn L và ông Lê Ngọc L1 được miễn nộp tiền án phí không có giá ngạch. Ông Lâm Văn M được trả lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007607 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Ông Huỳnh P2 được trả lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007608 ngày 26/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Ông N không phải nộp tiền án phí và ông N thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lâm Văn M phải chịu án phí phúc thẩm 300.000 đồng được khấu trừ phần án phí tạm nộp tại lai thu số 0010446 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ông M không phải nộp thêm, do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản:
Đối với tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 4.547.124 đồng; Phí thẩm định giá là 3.300.000 đồng. Tổng cộng là 7.847.124 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang N được chấp nhận một phần, ông N phải chịu toàn bộ số tiền trên. Ông N đã nộp xong.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Tấn |
Bản án số 172/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp qsdđ, quyền cấp thoát nước qua bđs liền kề
- Số bản án: 172/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ, quyền Cấp thoát nước qua BĐS liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông N yêu cầu Tòa án xem xét buộc các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm cho ông theo Quyết định số 12/QĐ-TTr ngày 01-02-2000 của Chánh Thanh tra tỉnh Kiên Giang đã ban hành và có hiệu lực nhu sau: Ông Du Văn T (ngang 1111, dài 4,80111); bà Trương Thị HI (ngang 1111, dài 5,05111); ông Tâm Văn M (ngang 1111, dài 5,15m); ông Lê Ngọc LI (ngang 1111, dài 4,50111) và ông Huỳnh P2 (ngang 1111, dài 5,52111). Nay ông N đồng ý giừ nguyên hiện trạng diện tích đất của các bị đơn và diện tích đất của ông theo đo đạc thực tế tại Tờ trích đo địa chính số TĐ 199-2023 (Tách 133,134-9) ngày 04-8-2023, ông không yêu cầu các bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm của ông theo đơn khởi kiện ban đầu. Đồng thời, ông yêu cầu Tòa án công nhận phần đất theo đo đạc thực tế có tồng diện tích là 488,Im2 thuộc thửa 134 theo tờ trích đo địa chính số TĐ: 199-2023 ngày 04-8-2023, đất tọa lạc tại ấp A, xà B, huyện c , tỉnh Kiên Giang là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông. Ông N không đồng ý mở đường thoát nước thải sinh hoạt theo yêu cầu của các bị đơn.
