|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2025/DS-PT Ngày: 11.04.2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi- Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 và 11 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 409/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 139/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 535/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số C, Tổ F, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: Ông Huỳnh Trần D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.( Giấy ủy quyền ngày 14/03/2023)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H: Luật sư Nguyễn Hồng N, sinh năm 1988, Công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố H.
Địa chỉ: A Tầng C, N, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Đ, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Số A, Tổ F, Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số A Đ, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thành P, sinh năm 1985. (Có mặt)
- Nguyễn Thị Bích Q, sinh năm 1988. (xin vắng mặt)
- Nguyễn Thành P1, sinh năm 1997. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số A, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H trình bày: Khoảng năm 1963, bà H cùng gia đình sử dụng diện tích đất kê khai là 250m², loại đất thổ cư (ngang 9m x dài 27,8m). Cả gia đình sinh sống từ đó đến nay, có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước theo quy định pháp luật.
Đến năm 1998, Nhà nước có chính sách kê khai đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định. Gia đình bà H đã nhiều lần liên hệ cơ quan chức năng tiến hành đo vẽ, kê khai, đăng ký làm giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa thể làm thủ tục đăng ký được bởi vì mỗi lần khi kê khai thì bà Nguyễn Thị Bích Đ ngụ tại số A, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ đứng ra ngăn cản và làm đơn tranh chấp gửi Ủy ban phường và cho rằng đấy là phần diện tích đất có nguồn gốc của gia đình chồng bà Đ, ngoài bà Đ thì không ai bên chồng của bà Đ có ý kiến hay ngăn cản gia đình bà H.
Ngày 30/06/2021, bà Đ nộp đơn đòi lại quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Đến ngày 08/07/2022, sau khi có quyết định hòa giải không thành thì bà Đ không tiếp tục gửi lên Tòa án để giải quyết tranh chấp mà để tình trạng tranh chấp kéo dài khiến nguyên đơn không thể tiến hành đo đạc, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do quyền lợi bị ảnh hưởng nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Công nhận cho bà Huỳnh Thị Mỹ H quyền sử dụng đất thửa số 27, tờ bản đồ số 18, diện tích khoảng 250m² thổ cư (ngang 9m x dài 27,8m) tại địa chỉ số C, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích Đ chấm dứt hành vi ngăn cản khi bà Huỳnh Thị Mỹ H thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: số C, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà ngoại chồng bà Đ tên Nguyễn Thị H1 mua của ông Võ Công T vào ngày 03/5/1963, lúc đó ông T có giấy chứng nhận của Bác sĩ Lê Văn T1 là ông T 61 tuổi còn mạnh khỏe, minh mẫn, không lẫn lộn (ngày 03/5/1963).
Tờ bán đứt đất thổ cư giữa ông Võ Công T và bà Nguyễn Thị H1 lập ngày 03/5/1963, nêu rõ bà Nguyễn Thị H1 là tá điền đã canh tác đất này từ năm 1955, được ưu tiên mua phần đất này với giá 11.000 đồng (Mười một nghìn đồng) và giao kèo giữa hai bên có sự chứng kiến của Hội đồng xã T về việc mua bán đất này vào ngày 03/5/1963.
Ngày 29/5/1963, ông T và bà H1 làm tờ bổ túc tờ bán đất ngày 03/05/1963, trước bạ tại Cần Thơ ngày 06/05/1963, quyển 129, tờ 69, số 406, điều chỉnh đất thuộc xã T, nay điều chỉnh theo địa bộ mới là xã T (P), Số địa bộ cũ 111, số địa bộ mới 491 T; Số bản đồ cũ 219, Tờ 1 cũ; Số bản đồ mới 128, Tờ 10, T; Diện tích cũ 0m 15s 50tv (cũ, không dùng); Diện tích hiện nay 0m 17s 90tv (đang dùng); Phần đất dôi ra là 0m 02s 40tv.
Ngày 24/11/1985, mẹ chồng là bà Nguyễn Thị K (con bà Nguyễn Thị H1) và ông ngoại chồng là ông Mai Phước H2 làm Di chúc để lại đất cho chồng bà là Nguyễn Thanh H3, có chứng thực của khu vực và Ủy ban nhân dân phường H ngày 26/11/1985, căn cứ Di chúc này chồng bà Đ đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 38/93/GCN ngày 26/5/1993, diện tích 1.508m². Sau đó, gia đình bà Đ chuyển nhượng cho ông Đ1 diện tích 78m² nên đến ngày 24/10/1994 diện tích đất còn lại 1430m². Vào năm 2006, chồng bà ông Nguyễn Thanh H3 chết, không để lại di chúc.
Theo bà Đ, việc bà H cho rằng bà Cao Thị B được bà Liêu Thị T2 mẹ của ông T cho ở nhờ và hứa cho 200m² là không có cơ sở, vì phần đất này bà H1 canh tác từ năm 1955 và được ưu tiên mua lại của chủ đất, có giấy tờ và chứng kiến của chính quyền, đồng thời có trước bạ sổ bộ như nêu trên. Bà B được ngoại chồng bà cho ở nhờ từ khi mua đất đến nay.
Lần hòa giải ngày 08/07/2021, bà H và ông M đã đưa ra ý kiến nếu bà Đ đồng ý cho bà H đăng ký sử dụng phần đất tranh chấp thì sẽ hỗ trợ cho bà Đ số tiền 100.000.000 đồng, chứng tỏ phần đất đang sử dụng không thuộc quyền sử dụng của bà H nên mới ra điều kiện như trên.
Bà Đ phản tố yêu cầu Tòa án nhân dân quận Cái Răng giải quyết các vấn đề như sau: Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thửa số 27, tờ bản đồ số 18, diện tích khoảng 250m² thổ cư (ngang 9m² x dài 27,8m²), địa chỉ số C, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ cho bà Nguyễn Thị Bích Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Nguyễn Thành P, Nguyễn Thị Bích Q, Nguyễn Thành P1. Yêu cầu bà Huỳnh Thị Mỹ H tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất nói trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành P, bà Nguyễn Thị Bích Q, ông Nguyễn Thành P1 trình bày: Thống nhất nội dung tự khai và trình bày của bà Đ.
Tại bản án sơ thẩm số 139/2024/TLST-DS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H về việc yêu cầu công nhận cho bà Huỳnh Thị Mỹ H quyền sử dụng đất diện tích 209,3m² loại đất ODT; thửa số 27; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 557/VPĐKĐĐ ngày 16/08/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C lập và yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích Đ chấm dứt hành vi ngăn cản khi bà Huỳnh Thị Mỹ H thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 18 nói trên.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất 96,1m² loại đất ODT; thửa số 27; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 557/VPĐKĐĐ ngày 16/08/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C lập cho bà Nguyễn Thị Bích Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm Nguyễn Thành P, Nguyễn Thị Bích Q, Nguyễn Thành P1 và yêu cầu bà Huỳnh Thị Mỹ H tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất nói trên.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 17/9/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận diện tích 96,1m² trong thửa đất 27, tờ bản đồ 18, diện tích 209,3m², loại đất thổ cư, tọa lạc tại số C, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ thuộc quyền quản lý của gia đình bà Đ. Để đúng với quyền sử dụng đất của bị đơn theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời năm 1993 là 1.508m² và buộc nguyên đơn tháo dỡ vật kiến trúc trên phần diện tích này trả đất lại cho bị đơn sử dụng.
Ngày 23/9/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận cho bà H được quyền sử dụng thửa đất số 27, tờ bản đồ số 18, diện tích 209,3m², tọa lạc tại số C, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn – Luật sư Nguyễn Hồng N trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị xem xét công nhận phần diện tích đất tranh chấp 209,3m², thửa đất 27, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại số C, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ cho nguyên đơn. Phần diện tích này, năm 1998 bà H kê khai sổ mục kê và được ghi nhận bà H đang sử dụng thửa đất 27. Từ năm 1963 đến nay, gia đình bà H đã sử dụng thửa đất 27 ổn định liên tục trên 60 năm, đóng thuế hàng năm đầy đủ cho nhà nước nên được xác lập quyền sở hữu theo Luật đất đai. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên là chưa xem xét đầy đủ chứng cứ ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Huỳnh Trần D trình bày: Nguyên đơn thống nhất với ý kiến trình bày của Luật sư Nguyễn Hồng N.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ2 – ông Lê Văn C trình bày: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị buộc nguyên đơn trả lại diện tích đất tranh chấp 96,1m² để cho đủ diện tích 1.508m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 38/93/GCN ngày 26/5/1993. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp nhưng không đưa ra được chứng cứ nguồn gốc đất là của nguyên đơn. Căn cứ vào chứng cứ là Tờ bán đứt đất thổ cư ngày 03/5/1963, và Tờ bổ túc bán đất ngày 29/5/1963, trước bạ tại Cần Thơ ngày 06/05/1963, Di chúc ngày 24/11/1985, ngày 26/11/1985, ông Nguyễn Thanh H3 chồng bà Đ2 được hưởng di sản thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.508m² là đúng quy định. Theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp là 209,3m², bị đơn yêu cầu trả lại diện tích 96,1m² để cho đủ diện tích được công nhận 1.508m² là phù hợp. Bà H cho rằng gia đình được bà Liêu Thị T2 cho ở nhờ trên đất là không có cơ sở, hơn nữa mẹ bà H là bà Cao Thị B chết không để lại di chúc, di sản đã phát sinh thừa kế nên bà H không đủ điều kiện để khởi kiện. Đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn O, bà Huỳnh Thị Mỹ H thống nhất trình bày: Các ông bà là anh chị em ruột của bà Huỳnh Thị Mỹ H, phần diện tích đất tranh chấp 209,3m², thửa đất 27, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại số C, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ là của bà Cao Thị B là mẹ ruột của các ông bà. Sau đó. bà B chết để lại cho bà Huỳnh Thị Mỹ H sử dụng cho đến nay. Các ông bà không tranh chấp gì với bà H và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H nên đề nghị xem xét công nhận phần đất tranh chấp cho bà H để bà H được làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy, trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và qua diễn biến tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ thực hiện thủ tục kháng cáo trong thời hạn nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất tranh chấp có diện tích khoảng 209,3m²; thửa số 27; tờ bản đồ số 18, tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ và yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở việc nguyên đơn làm thủ tục sang tên phần đất tranh chấp. Bị đơn phản tố yêu cầu nguyên đơn trả lại phần đất có diện tích 69,1m² tọa lạc tại vị trí nêu trên và yêu cầu nguyên đơn tháo dỡ toàn bộ phần nhà nằm trên phần đất tranh chấp để trả lại đất tranh chấp cho bị đơn, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H. Nhận thấy:
[3.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Bà Huỳnh Thị Mỹ H và bà Nguyễn Thị Bích Đ đang tranh chấp diện tích đất 209,3m², loại đất ODT, thửa đất số 27, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại số C, tổ A, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Bà H và bà Đ đều thừa nhận phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Võ Công T. Bà H cho rằng phần đất nêu trên ông Võ Công T và bà Lưu Thị T3 là mẹ của ông T đã cho bà Cao Thị B xây dựng nhà để ở từ năm 1948. Việc cho đất có con của ông T là bà Võ Thị L thừa nhận theo “Giấy xác nhận” ngày 01/03/1990, nội dung: “Xác nhận năm 1948 do chiến tranh gia đình bà Cao Thị B còn gọi là vợ Hai H4 đã đến cất nhà trên đất của cha bà là ông Võ Công T. Bà nội bà là Liêu Thị T2 có hứa cho gia đình bà Cao Thị B vĩnh viễn đất nền nhà đang ở với điều kiện phải lo đóng thuế đất cho nhà nước. Việc này cha bà và cả nhà đều biết và cũng đồng thuận....”. Sau khi được cho đất, bà Cao Thị B xây dựng nhà ở và sinh sống cho đến khi bà B chết năm 1995, để lại cho bà H quản lý, sử dụng cho đến nay.
Xét thấy, quá trình sử dụng đất bà Cao Thị B có thực hiện đóng thuế đất nhưng không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền khi nhà nước có chủ trương cho đi đăng ký cấp đại trà từ giai đoạn năm 1990 đến năm 1993, nên không có tên trong sổ mục kê. Bà Cao Thị B có tất cả 05 người con là bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1950, ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1955, ông Huỳnh Văn O, sinh năm 1958, bà Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 19962, bà Huỳnh Thị Mỹ C1, sinh năm 1965, khi bà Cao Thị B chết thì chỉ có bà Huỳnh Thị Mỹ H tiếp tục ở trên đất. Đến năm 1998, bà H kê khai và đứng tên trên sổ mục kê thửa đất số 27, diện tích 216,9m².
Tại biên bản hòa giải ngày 26/08/2024, bà Đ thừa nhận gia đình bà H đã ở trên đất từ trước năm 1963. Đồng thời, bà Đ cũng thừa nhận bà Nguyễn Thị H1 là tá điền ở trên đất từ năm 1955, được ông T chuyển nhượng đất vào ngày 3/5/1963. Căn cứ Quyết định số 188-CP ngày 25/9/1976 của Hội đồng chính phủ quy định về chính sách xóa bỏ tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột, thực dân phong kiến ở miền nam thì phần đất tranh chấp không còn là của ông T.
Xét thấy, bà Cao Thị B đã sử dụng phần đất tranh chấp từ trước năm 1963 cho đến năm 1995. Sau khi, bà B chết thì bà H tiếp tục quản lý sử dụng kê khai và đóng thuế theo quy định nên phần đất tranh chấp không phải là di sản thừa kế. Đối với phần đất này, gia đình nguyên đơn là người trực tiếp quản lý sử dụng ổn định trên thực tế, gia đình bị đơn trước nay không sử dụng phần đất này, không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và không tranh chấp. Nay bà Nguyễn Thị H1, ông Mai Văn P2, ông Nguyễn Thanh H3 chết thì bà Nguyễn Thị Bích Đ vợ ông H3 tranh chấp ngăn cản không cho nguyên đơn thực hiện thủ tục cấp giấy là không phù hợp. Căn cứ theo quy định của Luật đất đai qua từng thời kỳ việc tư nhân sở hữu về đất đai đã bị bãi bỏ, người đang sử dụng đất hợp pháp thì được tiếp tục sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Do vậy, bà H có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 166 Luật đất đai năm 2013. Tại phiên tòa, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Cao Thị B là bà Huỳnh Thị N1, ông Huỳnh Văn M, ông Huỳnh Văn O, bà Huỳnh Thị Mỹ C1 thống nhất không tranh chấp và đồng ý để cho bà H được quyền sử dụng phần diện tích đất tại thửa 27 và được tiến hành thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định
Do đó, xét về tư cách khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh cấp cho nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận vì không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người thừa kế còn lại.
Xét thấy, trong diện tích đất 216,9m² tại thửa 27, có một phần diện tích 12,4m² nằm trong HLAT sông nên chỉ công nhận cho bà H diện tích 196,9m², loại đất ODT thuộc thửa 27. Đối với phần diện tích đất trong hành lang an toàn sông, bà H được tiếp tục sử dụng và phải giao lại khi nhà nước thu hồi theo quy định của pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ, Nhận thấy: Bà Đ cho rằng phần đất tranh chấp là của bà ngoại chồng bị đơn tên Nguyễn Thị H1 nhận chuyển nhượng của ông Võ Công T theo “Tờ bán đứt đất thổ cư” ngày 03/5/1963 và “Tờ bổ túc bán tờ bán đất ngày 03/5/1963”, trước bạ tại Cần Thơ ngày 06/5/1963. Mẹ chồng bị đơn là bà Nguyễn Thị K (con bà Nguyễn Thị H1) và ông ngoại chồng là ông Mai Phước H2 để lại cho ông Nguyễn Thanh H3 (chồng bị đơn). Sau đó ông Nguyễn Thanh H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 38/93/GCN ngày 26/5/1993, diện tích 1.508m², sau đó ông H3 đã chuyển nhượng một phần 78m² cho ông Đ1 nên diện tích còn lại 1430m².
Căn cứ Bản trích đo địa chính số 557/TTKTTNMT ngày 16/08/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, kết quả đo đạc phần đất tranh chấp có diện tích là 209,3m² thuộc thửa 27 và phần diện tích đất không tranh chấp là 1.411.9m² thuộc thửa 28, 29. Như vậy, diện tích đất của bị đơn thiếu 96,1m² so với diện tích theo giấy chứng nhận tạm thời. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện buộc nguyên đơn trả lại diện tích 96,1m². Bị đơn cho rằng nguyên đơn lấn đất nhưng cộng diện tích đất nguyên đơn đang quản lý sử dụng với diện tích bị đơn quản lý thì lớn hơn so với diện tích được công nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời. Đồng thời, tại nội dung của giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp tạm thời của ông Nguyễn Thanh H3 xác định “Diện tích là do ông (bà) tự khai, khi đo đạc lại sẽ lấy theo diện tích đo đạc và đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức”.
Bị đơn cho rằng gia đình mua đất từ ông Võ Công T từ năm 1963, thời điểm mua đất có biết gia đình bà Cao Thị B ở trên đất nhưng không có ý kiến cũng như tranh chấp cho đến khi bà B chết vào năm 1995, sau đó bà H tiếp tục quản lý, sử dụng và thực hiện đi đăng ký kê khai cũng không tranh chấp. Điều đó cho thấy, gia đình bị đơn cũng không xác định được phần đất mà gia đình nguyên đơn sử dụng có nằm trong phần đất gia đình bị đơn đã mua từ ông Võ Công T hay không. Bị đơn không chứng minh được phần đất tranh chấp thuộc phần đất mà bà Nguyễn Thị H1 đã chuyển nhượng ngày 03/5/1963. Do vậy, không có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 27 là một phần trong diện tích bà Nguyễn Thị H1 đã nhận chuyển nhượng của ông T, nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.
Xét thấy, sau khi được cấp giấy năm 1993 trong quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Thanh H3 đã chuyển nhượng đất cho nhiều người và cho người khác ở nhờ trên đất, có một số hộ dân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, cùng thời điểm năm 1998 bà H kê khai sổ mục kê diện tích đất đang sử dụng và đứng tên thửa 27 thì phía ông H3 đã đăng ký kê khai phần đất đang sử dụng diện tích 137,6m², thuộc thửa 14. Như vậy, tại thời điểm đăng ký sổ mục kê, phần đất của ông H3 kê khai là thửa đất riêng biệt không chồng lấn lên thửa đất của bà H.
Tại phiên tòa, bà Đ cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện trên phần diện tích 1.411m² hiện đang có 14 hộ đang sinh sống trên đất trong đó có 05 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, riêng thửa 14 bị đơn đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hiếu H5 một phần diện tích 63,1m² và ông H5 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thửa 14 còn lại 74,5m² hiện bà Đ đang sử dụng chưa được cấp giấy chứng nhận. Từ đó, chứng minh diện tích đất của bà Đ tại thời điểm tranh chấp chỉ còn lại 74,5m², thuộc thửa 14, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả lại diện tích đất tranh chấp 96,1m² để cho đủ diện tích 1.508m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời số 38/93/GCN ngày 26/5/1993 là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
Điều 697; Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005;
Điều 353; Điều 357; Điều 425; Điều 427; Điều 468; Điều 500; Điều 503; Bộ Luật dân sự (năm 2015); Điều 127 Luật đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009;
Điều 167; Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ.Sửa bản án sơ thẩm
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ H về việc yêu cầu công nhận cho bà Huỳnh Thị Mỹ H quyền sử dụng đất diện tích 196,9m² loại đất ODT; thửa số 27; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 557/VPĐKĐĐ ngày 16/08/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, bà Huỳnh Thị Mỹ H được tiếp tục sử dụng phần diện tích HLAT sông 12,4m² và phải giao lại khi nhà nước thu hồi theo quy định của pháp luật.
- Buộc bà Nguyễn Thị Bích Đ chấm dứt hành vi ngăn cản khi bà Huỳnh Thị Mỹ H thực hiện thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 27, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Bà Huỳnh Thị Mỹ H được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất 96,1m² loại đất ODT; thửa số 27; tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 557/VPĐKĐĐ ngày 16/08/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C lập cho bà Nguyễn Thị Bích Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm Nguyễn Thành P, Nguyễn Thị Bích Q, Nguyễn Thành P1 và yêu cầu bà Huỳnh Thị Mỹ H tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất nói trên.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: số tiền 6.092.000 đồng (Sáu triệu, không trăm chín mươi hai nghìn đồng). Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tương ứng với số tiền 3.046.000 đồng (Ba triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Nguyên đơn đã tạm ứng trước nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 3.046.000 đồng (Ba triệu, không trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) cho nguyên đơn.
- Chi phí thu thập tài liệu chứng cứ với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Nguyên đơn phải chịu chi phí này và đã chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu. Bị đơn phải nộp án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án đã nộp theo biên lai thu số 0003500 ngày 30/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, nguyên đơn được nhận lại số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích Đ phải chịu 300.000đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003684 ngày 17/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nơi nhận:
|
Võ Bích Hải |
Bản án số 172/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 172/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
