Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HSST

Ngày: 29/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành
  • 2. Ông Phạm Thế Ngọc

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 160/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thành T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1997, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: P, T, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên cha: Nguyễn Văn T1 – Sinh năm: 1972; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1976; Họ tên vợ: Nguyễn Thị T2 – Sinh năm: 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Mua dâm (đã hết thời hiệu xử lý); Năm 2018 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã hết thời hiệu xử lý).

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Cao C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Từ A, T, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Họ tên cha: Cao Thanh Q – Sinh năm: 1964; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T3 – Sinh năm: 1964; Họ tên vợ: Nguyễn Thị N – Sinh năm: 1997; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Công ty TNHH một thành viên C1, chi nhánh H2; Địa chỉ trụ sở: Tầng B tháp C tòa nhà C, số B đường T, phường Y, quận C, Hà Nội; Đại diện theo pháp luật: bà Hoàng Thị Thu H1- Giám đốc chi nhánh; Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Diệp Trọng S - nhân viên pháp chế (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyễn Thành T và Cao C là nhân viên Bưu tá của Công ty TNHH MTV C1 chi nhánh H2 và làm việc tại Bưu cục I tại đội 8, V, Đ, T, Hà Nội. nhiệm vụ của T và C là nhận bưu kiện của người gửi để giao đến người nhận và thu hộ tiền giá trị hàng gửi cùng phí vận chuyển từ người nhận. Nhân viên bưu tá có trách nhiệm quản lý bưu gửi được giao và số tiền thu hộ trong thời gian đi giao hàng. Đến cuối ca làm trong ngày, Bưu tá phải quay lại Bưu cục để nộp lại những bưu gửi không giao được và số tiền đã thu hộ tương ứng với những vận đơn đã giao thành công cho nhân viên giao dịch của bưu cục để đối soát và trả lại tiền thu hộ cho người gửi.

Sau khi được phân hàng, T dùng máy quét mã các đơn hàng được giao để thông tin các đơn hàng trên hệ thống tài khoản cá nhân tại App giao hàng của Công ty. Dựa vào thông tin, địa chỉ khách hàng trên từng đơn trên App thì T đi vận chuyển hàng và thu tiền sau đó xác nhận về việc giao hàng và thu tiền.

Từ ngày 11/9/2023 đến ngày 18/9/2023, T và C được Admin bưu cục H82-DC Thanh Trì giao vận chuyển nhiều đơn hàng trong đó có 31 đơn hàng có thu Cod (thu tiền từ khách hàng), địa điểm giao hàng tại khu vực tại đội 6,7,8,9 xã N. Do thời điểm này, T cần tiền sử dụng vào mục đích cá nhân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền thu được của khách không nộp về Công ty. Để chiếm đoạt được nhiều tiền hơn nên T đã trao đổi với C về việc C thu tiền của khách thì không nộp về Công ty mà chuyển về tài khoản cho T sử dụng. Do nể nang nên C đồng ý và làm theo. T và C đã giao thành công 31 đơn, thu tiền cod từ khách hàng với tổng số tiền 26.269.277 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng) nhưng T không xác nhận trên App giao hàng của Công ty về việc giao thành công mà báo trên App là khách hàng hẹn lại ngày nhận với mục đích giấu công ty việc T đã thu tiền của khách.

Trong 31 đơn nêu trên, những đơn tại khu vực xã N là T giao trực tiếp và thu tiền của khách hàng; Đối với những đơn hàng tại Bệnh viện N1, tập thể thức ăn chăn nuôi là do Cao C giao, thu tiền sau đó chuyển khoản lại cho T.

Trong quá trình làm việc, Công ty phát hiện Nguyễn Thành T đã giao thành công cho khách 31 đơn hàng và thu từ khách tổng số tiền 26.269.277 đồng nhưng sau đó không nộp lại tiền, tự ý nghỉ việc và chiếm đoạt số tiền nêu trên. Ngày 07/11/2023, Công ty đã làm đơn tố giác Nguyễn Thành T đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Thành T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Cơ quan thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do T cần tiền sử dụng vào mục đích cá nhân nên đã nảy ý định chiếm đoạt tiền của Công ty C1 thông qua việc thu tiền của khách hàng rồi chiếm đoạt, không nộp về Công ty.

Cao C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của C phù hợp với lời khai của T và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan Điều tra đã thu thập thông tin tài khoản, sao kê giao dịch liên quan đến việc chuyển, nhận tiền từ tài khoản của Nguyễn Thành T và Cao C. Cơ quan điều tra đã triệu tập, lấy lời khai và thu thập được tài liệu giao dịch chuyển khoản của khách hàng đến tài khoản của T, C (thể hiện tại Phụ lục 1 kèm theo Cáo trạng này). Đối với 17 khách hàng liên quan đến các đơn hàng của T nhận chuyển sau đó thu tiền thành công rồi chiếm đoạt, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh, đăng báo, yêu cầu các tổ chức viễn thông cung cấp thông tin nhưng chưa có kết quả.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của Nguyễn Thành T, Cao C có đủ căn cứ xác định Nguyễn Thành T đã chiếm đoạt 26.269.277 đồng tiền thu từ khách hàng nhưng không nộp về Công ty C1 mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Trong đó, Cao C giúp sức T chiếm đoạt số tiền 8.013.440 đồng.

Về dân sự: Công ty C1 yêu cầu T và C phải bồi thường cho Công ty số tiền đã chiếm đoạt là 26.269.277 đồng.

Tại bản cáo trạng số 157/CT-VKSTT ngày 25/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Cao C về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng là đúng và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất.

Bị cáo T khai do cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh hành vi chiếm đoạt tài sản của công ty.

Bị cáo C khai do thấy T có hoàn cảnh khó khăn nên muốn giúp đỡ T mà không được hưởng lợi gì.

Bị hại là Công ty TNHH một thành viên C1, chi nhánh H2 do ông Diệp Trọng S – Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trình bày: Quá trình làm việc trước khi Tòa án xét xử, công ty đã tạo điều kiện để bị cáo T khắc phục hậu quả để có căn cứ đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên bị cáo T không khắc phục hậu quả do mình gây ra nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp và buộc bị cáo T phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với các bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Cao C 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải bồi thường cho bị hại là công ty C1 số tiền 26.269.277 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, ý kiến của bị hại...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai của người làm chứng... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Thành T và Cao C được Công ty TNHH MTV C1, chi nhánh H2, Bưu cục H82, DC Thanh Trì ở thôn V, xã Đ, huyện T, Hà Nội giao nhiệm vụ chuyển phát hàng hóa và thu tiền của khách hàng để nộp về Công ty. Trong khoảng thời gian từ ngày 11/9/2023 đến ngày 18/9/2023, T và C đã lợi dụng quyền hạn trong việc thu, quản lý tiền thu của khách hàng để chiếm đoạt tiền của Công ty. Cụ thể, T đã nhiều lần chiếm đoạt được tổng số tiền 26.269.277 đồng, trong đó ngày 11/9/2023 chiếm đoạt được 5.913.100 đồng và ngày 17/9/2023 chiếm đoạt được 2.185.000 đồng, phạm vào tội “Tham ô tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Cao C đồng phạm giúp T chiếm đoạt số tiền 8.013.440 đồng phạm vào tội “Tham ô tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến tài sản của cá nhân, tổ chức khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội.

Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Thành T là người có vai trò chính, làm việc theo quy định của Công ty C1, mặc dù biết rõ quy trình, nội quy của Công ty, nhận thức được hành vi chiếm đoạt là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi cá nhân đã bất chấp vi phạm pháp luật nhiều lần và chiếm đoạt toàn bộ số tiền 26.268.277 đồng của bị hại.

Bị cáo Cao C là đồng phạm trong vụ án, tiếp nhận ý chí của bị cáo T, đồng ý với việc sẽ chiếm đoạt tiền của bị hại và chuyển lại cho T, tuy nhiên bị cáo C không được hưởng lợi gì.

Cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc và tương xứng với hành vi của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có việc làm nhưng thu nhập không ổn định và hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về dân sự: Hội đồng xét xử thấy việc Công ty C1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thành T phải bồi thường cho Công ty số tiền 26.269.277 đồng đã chiếm đoạt là có căn cứ cần được chấp nhận.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm ; Bị cáo T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thành T và bị cáo Cao C phạm tội “Tham ô tài sản”.

2. Áp dụng:

  • - Điểm c khoản 2 điều 353; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (Đối với bị cáo Nguyễn Thành T).
  • - Khoản 1 điều 353; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (Đối với bị cáo Cao C).

Áp dụng: Các điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

3. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thành T 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Cao C 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

4. Về phần dân sự:

Bị cáo Nguyễn Thành T có trách nhiệm phải bồi thường cho bị hại là Công ty TNHH một thành viên C1 – Chi nhánh H2 số tiền 26.269.277 đồng (hai mươi sáu triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm bảy mươi bảy đồng).

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo Nguyễn Thành T phải nộp 1.313.463 đồng (một triệu, ba trăm mười ba nghìn, bốn trăm sáu mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị hại – Công ty TNHH một thành viên C1, chi nhánh H2 có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Bị Cáo, bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản

  • Số bản án: 172/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành T và Cao C phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger