Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Minh Châu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Trường Sơn.

2. Bà Võ Thị Nam.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Huy Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2024/TLST-HS ngày 19/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1842/2024/QĐXXST-HS ngày 08/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Kim T; giới tính: Nữ; sinh ngày: 02/7/1994, tại Thành phố H; nơi đăng ký thường trú: Tổ I, phường Q, thành phố Q, tỉnh Q; chỗ ở: tổ G, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố H; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hoàng T3 (chết) và bà Hoàng Thị Minh T4; chung sống như vợ chồng với Lê Minh Pha, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 71/2020/HS-ST ngày 09/3/2020, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 28/2020/HS-ST ngày 10/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 10 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù của Bản án số 71/2020/HS-ST ngày 09/3/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, hình phạt chung Nguyễn Thị Kim T phải chấp hành là 11 năm 03 tháng tù; được hoãn chấp hành án phạt tù với do nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi theo Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù số 10/2023/THAHS-QĐ ngày 12/6/2023.

Bị bắt, tạm giam từ ngày 24/7/2023; có mặt.

2. Nguyễn Văn D; giới tính: Nam; sinh ngày: 08/3/1995, tại tỉnh Đ; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đ; chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Kim C; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 24/7/2023; có mặt.

3. Phạm Hoàng N; giới tính: Nam; sinh ngày: 14/6/1992, tại Thành phố H; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: đường A, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố H; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn N1 và bà Trần Thị Ngọc H; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt, tạm giam từ ngày 24/7/2023; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T: Luật sư Nguyễn Ngọc Trâm - Văn phòng Luật sư Hồ Trung Hiếu, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Hoàng Thị Minh T1, sinh năm: 1967

Địa chỉ: Khu phố E, phường L, Thành phố T, Thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 24/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thành phố Thủ Đức phối hợp Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến trước nhà tổ E, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố H phát hiện Nguyễn Văn D đang điều khiển xe máy biển số 93F1-04588 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang trong túi quần jean bên phải phía trước Nguyễn Văn D đang mặc có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 1,1779 gam loại Methamphetamine;

Đến 13 giờ 20 phút ngày 24/7/2023, tiếp tục tuần tra phát hiện Phạm Hoàng N điều khiển xe máy hiệu Honda AirBlade biển số 59X2-72675 tại trước nhà tổ H, khu phố E, phường L, thành phố T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang trong túi quần bên phải Phạm Hoàng N đang mặc có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, khối lượng 2,4499 gam loại Methamphetamine;

Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N khai nhận số ma túy bị Công an thu giữ do Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N mua của Nguyễn Thị Kim T mang về để sử dụng.

Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 24/7/2023, khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Kim T tại nhà khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố H, Nguyễn Thị Kim T đã tự nguyện giao nộp 28 gói nylon chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 51,6231 gam loại Methamphetamine và 1.700.000 đồng. Qua kiểm tra, Tổ công tác thu giữ thêm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 15,6247 gam loại Methamphetamine, một hộp kim loại ghi chữ Gerdolx Gold, 01 hộp bằng gỗ, 01 cây kéo, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 hộp quẹt ga, 01 hộp giấy, 01 cân điện tử màu đen trắng một hộp nhựa và 30 gói nylon không chứa gì và 550.000.000 đồng.

Nguyễn Thị Kim T khai nhận, khoảng tháng 02/2023, Nguyễn Thị Kim T mua ma túy của một người phụ nữ tên T2 (không rõ lai lịch) để bán cho người khác. Nguyễn Thị Kim T đã mua ma túy của Trang nhiều lần, mỗi lần mua Nguyễn Thị Kim T dùng điện thoại số 0901.171.xxx gọi cho Trang qua số điện thoại 0908.747.xxx và chuyển tiền cho Trang theo số tài khoản của T2 (Nguyễn Thị Kim T không nhớ cụ thể số tài khoản). Ngày 23/7/2023, Nguyễn Thị Kim T mua 50 gam ma túy đá của T2; sau khi mua được ma túy, Nguyễn Thị Kim T dùng cân điện tử phân thành nhiều gói nhỏ khác nhau để bán cho người mua. Vào lúc 09 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Văn D nhắn tin đặt mua của Nguyễn Thị Kim T 1,2 gam ma túy đá với giá 700.000 đồng, Nguyễn Văn D chuyển tiền mua ma túy cho Nguyễn Thị Kim T xong, Nguyễn Văn D đến nhà Nguyễn Thị Kim T để nhận ma túy, lúc này Nguyễn Thị Kim T ra ngoài có công việc vì vậy nhờ P lấy 02 gói ma túy đá giao giao cho Nguyễn Văn D. Một lát sau có Phạm Hoàng N đến mua 01 gói ma túy đá khoảng 2,5 gam với giá 1.000.000 đồng, do không có Nguyễn Thị Kim T ở nhà nên P lấy 01 gói ma túy đã được phân sẵn giao cho Phạm Hoàng N và Phạm Hoàng N đưa tiền cho P khi Nguyễn Thị Kim T về P báo lại cho Nguyễn Thị Kim T biết và đưa tiền bán ma túy lại cho Nguyễn Thị Kim T. Trước đó, Nguyễn Thị Kim T đã bán ma túy cho Nguyễn Văn D ba lần, bán cho Phạm Hoàng N một lần, cụ thể như sau:

- Bán cho Nguyễn Văn D: Lần 1, khoảng giữa tháng 6/2023, Nguyễn Thị Kim T bán cho Nguyễn Văn D 0,6 gam loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng; Lần 2, khoảng cuối tháng 6/2023, Nguyễn Thị Kim T bán cho Nguyễn Văn D 2,5 gam loại Methamphetamine với giá 1.300.000 đồng; Lần 3, ngày 20/7/2023, Nguyễn Thị Kim T bán cho Nguyễn Văn D 1,2 gam loại Methamphetamine với giá 700.000 đồng. Cả ba lần sau khi mua xong, Nguyễn Văn D đều mang về và sử dụng hết.

- Bán cho Phạm Hoàng N: Ngày 12/7/2023, Nguyễn Thị Kim T bán cho Phạm Hoàng N 1,2 gam loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng, sau khi mua xong Phạm Hoàng N mang về sử dụng hết.

Tất cả ma túy thu giữ đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 8145/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với đối tượng tên T2 là người bán ma túy cho Nguyễn Thị Kim T do Nguyễn Thị Kim T khai không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ. Đối với số thuê bao điện thoại 0908.747.xxx có liên quan đến đối tượng T2, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng tới nay vẫn chưa có kết quả. Đối với Lê Minh Pha người phụ giúp Nguyễn Thị Kim T bán ma túy cho Phạm Hoàng N và Nguyễn Văn D, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can, qua xác minh P đã bỏ địa phương đi đâu không rõ Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã khi bắt được sẽ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 173/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 13/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Nguyễn Văn D và bị cáo Phạm Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 17 năm tù đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 28/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 11 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Kim T 10.000.000 đồng.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 01 năm tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn D 5.000.000 đồng.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N từ 02 năm tù đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung bị cáo Phạm Hoàng N 5.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bị thu giữ còn lại sau giám định; trả lại cho bà Hoàng Thị Minh Tâm 550.000.000 đồng không liên quan đến vụ án; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội như điện thoại, tiền của bị cáo Nguyễn Thị Kim T; đối với các tang vật khác đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim T trình bày: Luật sư thống nhất nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội danh, khối lượng ma túy, khung hình phạt và đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nêu trong phần luận tội đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim T. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc quan tâm đến hoàn cảnh gia đình rất khó khăn của bị cáo hiện đang nuôi 03 con nhỏ, bị cáo đang bị tạm giam không có điều kiện chăm sóc các con phải nhờ đến mẹ đẻ của mình. Bị cáo học vấn thấp, suy nghĩ về cuộc sống gia đình và nhận thức pháp luật còn hạn chế nên dẫn đến hành vi phạm tội; ngoài bản án này, bị cáo còn 02 bản án chưa thi hành. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc đến hoàn cảnh đặc biệt của bị cáo để áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, xem xét trả lại số tiền 550.000.000 đồng cho bà Hoàng Thị Minh Tâm do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim T đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư; các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn D, Phạm Hoàng N không có ý kiến bào chữa và không tham gia tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Do Luật sư đồng ý với nội dung Cáo trạng truy tố và quan điểm luận tội, Luật sư chỉ đề nghị xem xét đến hoàn cảnh phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét.

Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày trước phiên tòa, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 24/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an thành phố Thủ Đức phối hợp Công an phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 1,1779 gam loại Methamphetamine. Sau đó tiếp tục tuần tra phát hiện bắt quả tang Phạm Hoàng N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khối lượng 2,4499 gam loại Methamphetamine.

Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N khai nhận số ma túy mua của Nguyễn Thị Kim T để sử dụng. Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Kim T, phát hiện và thu giữ 67,2478 gam loại Methamphetamine và 1.700.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim T, là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn D, Phạm Hoàng N là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gieo rắc tệ nạn ma túy, ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống tội phạm về ma túy và đây cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác, tội phạm khác. Do đó, cần xử lý nghiêm minh các bị cáo để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 76,3756 gam loại Methamphetamine, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 1,1779 gam loại Methamphetamine bị bắt quả tang, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Phạm Hoàng N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng 2,4499 gam loại Methamphetamine bị bắt quả tang, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N về tội danh và điều luật như đã phân tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T có một tiền án chưa chấp hành, đang trong thời gian hoãn thi hành án lại tiếp tục phạm tội mới, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Văn D và Phạm Hoàng N đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn D, Phạm Hoàng N phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Kim T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy hưởng lợi, cần thiết áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử áp dụng phạt tiền mức khởi diểm 5.000.000 đồng đối với bị cáo. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn D, Phạm Hoàng N là người nghiện, mua ma túy về sử dụng cho bản thân nên không áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Từ các phân tích nêu trên, là quan điểm của Hội đồng xét xử xét đối với các ý kiến tranh luận, đối đáp của Luật sư bào chữa cho bị cáo và của Kiểm sát viên.

[5] Xử lý vật chứng:

- Đối với: 05 gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ: 1623/23 Gói 1, 1623/23 Gói 2, 1623/23 Gói 3, 1623/23 Gói 4, 1623/23 Gói 5 bên trong là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Thị Hằng và Điều tra viên Nguyễn Thị Phương Mai; 01 hộp kim loại có ghi chữ Gerdolax Gold; 01 hộp bằng gỗ; 01 cái kéo; 01 đoạn ống hút bằng nhựa cắt xéo 01 đầu; 01 hộp quẹt ga; 01 hộp giấy; 01 hộp nhựa màu đen; 30 gói nylon rỗng. Xét đây là vật cấm lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

- Đối với: 01 cân điện tử màu đen trắng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, 01 thẻ sim thu giữ của Nguyễn Thị Kim T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 02 thẻ sim thu giữ của Phạm Hoàng N; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, 01 thẻ sim thu giữ của Nguyễn Văn D. Xét đây là vật chứng các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

- Đối với số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Kim T là tiền thu lợi bất chính mà có từ mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

- Đối với số tiền 550.000.000 đồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Kim T tại nhà số 20/42 tổ 10, khu phố 6, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị Kim T và bà Hoàng Thị Minh Tâm (mẹ bị cáo Nguyễn Thị Kim T) cùng có lời khai xác nhận đây là tiền do bà Tâm gửi Nguyễn Thị Kim T giữ, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bà Tâm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Tổng hợp với hình phạt tại Bản án số 28/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim Tuyến 11 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 28 (hai mươi tám năm) 03 (ba) tháng tù;

Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023;

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Kim T 5.000.000 đồng.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

4. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 05 gói niêm phong bên ngoài có ghi số vụ: 1623/23 Gói 1, 1623/23 Gói 2, 1623/23 Gói 3, 1623/23 Gói 4, 1623/23 Gói 5 bên trong là ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài gói niêm phong có chữ ký của giám định viên Lê Thị Hằng và điều tra viên Nguyễn Thị Phương Mai; 01 hộp kim loại có ghi chữ Gerdolax Gold; 01 hộp bằng gỗ; 01 cái kéo; 01 đoạn ống hút bằng nhựa cắt xéo 01 đầu; 01 hộp quẹt ga; 01 hộp giấy; 01 hộp nhựa màu đen; 30 gói nylon rỗng;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 cân điện tử màu đen trắng ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tím, 01 thẻ sim, tạm giữ của Nguyễn Thị Kim T (thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu tím, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 02 thẻ sim, tạm giữ của Phạm Hoàng N (...027/0, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, 01 thẻ sim, tạm giữ của Nguyễn Văn D (không có Imei, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong) và 1.700.000 (một triệu bảy trăm nghìn) đồng.

- Trả lại cho bà Hoàng Thị Minh T 550.000.000 (năm trăm năm mươi triệu) đồng.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/226 ngày 19/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền ngày 17/8/2023 vào tài khoản số 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.)

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (3)
  • - Đương sự; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (3)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (30) (11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 172/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim T và đồng phạm, phạm các tội "Mua bán trái phép chất ma túy", "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger