|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2024/HSPT Ngày: 03/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên
Các Thẩm phán: ông Trương Công Thi
ông Phạm Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 106/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn N về tội “Giết người” do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn N - sinh ngày 29/10/1985 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn P, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: công nhân; con ông Trần Văn H (sinh năm 1962) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1963); có vợ: Ngô Thị H1 và 02 con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016); tiền án: chưa.
Tiền sự: ngày 26/4/2013, bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Kết quả xác minh Trần Văn N chưa nộp phạt.
Bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/4/2023. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Hà Xuân B - Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư thành phố Đ. Có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: ông Trần E - sinh năm 1967
1
Địa chỉ: tổ C, thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2020, chị Trần Thị Thu T1 quen biết với Trần Văn N và nảy sinh tình cảm yêu đương. Được khoảng thời gian thì N và chị T1 phát sinh mâu thuẫn nên chị T1 muốn chấm dứt quan hệ tình cảm.
Tối ngày 08/4/2023, N dùng điện thoại di động số 0986.610.xxx nhắn tin cho chị T1 số điện thoại 0944.731.xxx níu kéo tình cảm nhưng chị T1 không đồng ý. N tiếp tục nhắn tin đe dọa giết chị T1 và ba mẹ chị T1. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N lấy 01 con dao loại chặt thịt, dài khoảng 25cm (cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi bằng sắt dài khoảng 15cm, bề rộng của lưỡi dao khoảng 7cm) kẹp phía trước xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 43D1-119.18 (xe này N mua lại của ông Hoàng Xuân T2 với giá 5.800.000đồng), điều khiển xe từ công trình tại khu công nghiệp D, tỉnh Quảng Ngãi đến nhà chị T1 tại thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để giết chị T1 và gia đình. Khi đến thành phố T, tỉnh Quảng Nam, N dừng lại đổ xăng và lấy điện thoại nhắn tin cho chị T1 “Ba mẹ em và em phải chết” rồi tiếp tục điều khiển xe ra Đà Nẵng.
Đến gần nhà chị T1, N để xe cách khoảng 30m, điện thoại cho chị T1 03 cuộc nhưng chị T1 không nghe máy. Sau đó, N cầm con dao trên tay đi bộ đến nhà chị T1, leo qua hàng rào đi vào nhà. Nhân quan sát thấy không có ai, cửa hông vào nhà không khóa, N tháo đôi giày để ngoài, rồi cầm dao đi vào nhà xuống khu vực phòng bếp. Lúc này, N gặp ông Trần E (là cha ruột của chị T1) từ phòng ngủ đi ra. N cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát từ trên xuống trúng vào vùng ngực phải và tiếp tục chém 02 nhát vào vùng đùi chân phải của ông Trần E. Ông Trần E lùi về sau và bị ngã nghiêng về bên phải xuống nền nhà, N tiếp tục cầm dao chém nhiều nhát và nói lớn tiếng “Tui giết ông, tui giết ông”. Ông Trần E đưa tay lên đỡ và gạt được người N qua một bên rồi bỏ chạy ra phía trước sân tri hô, rồi trèo qua hàng rào sang nhà bên cạnh hô lớn cầu cứu.
N tiếp tục cầm dao đến phòng ngủ của chị T1 đạp cửa phòng tìm chị T1 để giết nhưng không thấy. Nghe ông Trần E tri hô, N sợ bị phát hiện nên cầm dao tẩu thoát.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 84/KLTTCT-TTPYEN ngày 17/4/2023 của Trung tâm pháp y thành phố Đ kết luận: thương tích của ông Trần E tại thời điểm giám định là 08%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
2
Căn cứ điểm n, q khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn N 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/01/2024, bị cáo Trần Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì cho rằng mức án nặng.
Ngày 23/01/2024, bị hại ông Trần E kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì cho rằng mức án 12 năm tù là nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Văn N và bị hại ông Trần E giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Bị cáo có nhân thân xấu, mức án 12 năm tù là thoả đáng. Hồ sơ vụ án có giấy xác nhận gia đình bị cáo có công cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N và kháng cáo của bị hại ông Trần E, giảm cho bị cáo N một phần hình phạt.
- Luật sư Hà X Bộ bào chữa cho bị cáo Trần Văn N đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng điểm q khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm cho bị cáo N một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Văn N thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: giữa chị T1 và bị cáo N có quan hệ tình cảm. Chị T1 biết N đã có vợ, con nên chủ động chia tay. N đòi gặp mặt để níu kéo tình cảm nhưng chị T1 không đồng ý nên N nhiều lần nhắn tin cho chị T1 đe doạ sẽ giết chị T1 và cha mẹ chị T1. Khoảng 22 giờ ngày 08/4/2023, N cầm 01 con dao loại chặt thịt, dài khoảng 25cm (cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi bằng sắt dài khoảng 15cm, bề rộng của lưỡi dao khoảng 7cm) đến nhà chị T1 tại thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng chém liên tục nhiều nhát trúng vào ngực phải và đùi chân phải của ông Trần E (là cha của chị T1). Khi ông E lùi về phía sau và ngã xuống nền nhà thì N tiếp tục cầm dao chém nhiều nhát, đồng thời nói lớn tiếng “Tui giết ông, tui giết ông”. Ông E quyết liệt
3
chống cự và vùng chạy thoát được. N tiếp tục cầm dao, dùng chân đạp mạnh cửa phòng ngủ của chị T1 nhưng không thấy chị T1. Nghe ông E tri hô, N sợ bị phát hiện nên bỏ trốn. Hậu quả: ông Trần E bị thương tật 08%. Xét án sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn N về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Văn N và bị hại ông Trần E kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn N, Hội đồng xét xử thấy: giữa bị cáo N và ông Trần E không có mâu thuẫn gì với nhau; bị cáo đã có vợ con nhưng khi chị T1 chấm dứt tình cảm thì bị cáo không đồng ý, nảy sinh ý định giết chị T1 và cha mẹ chị T1, bị cáo liên tục nhắn tin đe doạ giết chị T1, cha mẹ chị T1 và đã thực hiện hành vi giết cha chị T1 nên phạm vào các điểm n, q khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã dùng dao chém liên tục nhiều nhát vào người ông Trần E, trong đó có nhát chém vào ngực phải là vùng trọng yếu trên cơ thể ông E. Bị cáo tấn công quyết liệt, có ý thức tước đoạt mạng sống của ông E. Việc ông E chạy thoát được và không nguy hiểm đến tính mạng là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Không dừng lại, bị cáo tiếp tục cầm dao đạp phòng ngủ tìm chị T1 để chém, là thể hiện cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù tại hồ sơ vụ án có tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công cách mạng (ông nội là Trần Văn T3 được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhì và bà ngoại là Đỗ Thị Q có thời gian tham gia dân công hoả tuyến) nhưng Hội đồng xét xử thấy mức án 12 năm tù là đã xem xét, chiếu cố nhiều cho bị cáo và mức án này mới ở khởi điểm của khung hình phạt nên không thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N và kháng cáo của bị hại ông Trần E cũng như lời bào chữa của Luật sư và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; giữ nguyên hình phạt của Bản án sơ thẩm.
[3] Do nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Văn N không được chấp nhận nên bị cáo N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4] Các quyết định khác còn lại của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
4
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N và bị hại ông Trần E; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Áp dụng điểm n, q khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn N 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/4/2023.
- Về án phí: bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Kim Liên |
5
Bản án số 172/2024/HSPT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 172/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn N và bị hại ông Trần E; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
