Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23 tháng 9 năm 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bì.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Huệ, Bà Trần Thị Hoài Yến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiện – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kí - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 248/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 378/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Ly K, sinh năm 1993 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Q, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Ly K trình bày:

Về hôn nhân: Vào ngày 17 tháng 02 năm 2017, anh K và chị Nguyễn Thị N kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống giữa anh K với chị N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do chị N không quan tâm, chăm sóc gia đình và anh K, chị N đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2022 đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh K và chị N không còn mang đến hạnh phúc cho nhau, không thể hàn gắn được và mâu thuẫn giữa anh K, chị N đã trầm trọng nên anh K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau giải quyết cho anh K được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa anh K với chị N có 01 người con chung tên Phạm Khánh B, sinh ngày 05/8/2017. Hiện con chung do anh

1

K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh K yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Khánh B; anh K không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị N vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của anh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Ly K cho anh Phạm Ly K được ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Giao con chung tên Phạm Khánh B cho anh K nuôi dưỡng. Anh K không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị N là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Ly K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Nguyễn Thị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N.

[3] Về hôn nhân: Anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N sống chung với nhau như vợ chồng và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 07/02/2017 (Giấy chứng nhận kết hôn số 19/2017). Do đó, hôn nhân của anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Ly K xác định, sau thời gian sống chung, anh K và chị N bắt đầu quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh K được ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Đối với chị Nguyễn Thị N, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng chị N vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của anh K.

2

Hội đồng xét xử nhận thấy, anh K đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với chị N một thời gian dài nhưng chị N không có ý kiến gì, anh K cho rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa anh K và chị N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đồng thời anh K, chị N đã không còn sống chung với nhau từ tháng 6/2022 đến nay. Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh Phạm Ly K yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị N là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung anh K và chị N có 01 người con chung tên Phạm Khánh B, sinh ngày 05/8/2017 (Nữ). Sau khi ly hôn, anh K yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh K về nuôi con chung, cũng như cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu B hiện đang sống chung với anh K, đồng thời, tại bản tự khai ngày 07/8/2024, cháu Phạm Khánh B có nguyện vọng sống chung với cha là ông Phạm Ly K. Do đó, chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Ly K giao con chung tên Phạm Khánh B, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 (Nữ) cho Phạm Ly K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn yêu cầu khởi kiện cũng như qua quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Ly K tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Ly K không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình và án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con anh Phạm Ly K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Ly K với chị Nguyễn Thị N.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Khánh B, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 (giới tính Nữ) cho anh Phạm Ly K chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí:

    - Án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Phạm Ly K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 07 tháng 8 năm 2024, anh Phạm Ly K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003781 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

    Anh Phạm Ly K và chị Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bì

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger