TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 172/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/11/2024. V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
Bà Mai Thị Viện.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thanh Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 149/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/10/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Tổ dân phố Ư, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Bùi Thành L, sinh năm 1996;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố Ư, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.
(Tại phiên tòa vắng mặt anh Bùi Thành L. Chị Đoàn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Đoàn Thị H trình bày:
2
- Về hôn nhân: Chị H và anh Bùi Thành L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q (nay là thị trấn T), huyện Q, tỉnh Thanh Hóa năm 2019. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, có 01 con chung. Do điều kiện gia đình, năm 2022 anh L đi xuất khẩu lao động bên Đài Loan. Trong thời gian xa nhau, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, không có tiếng nói chung khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Vì khoảng cách địa lý, mỗi người một nơi nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Khi mới sang Đài Loan chị còn biết thông tin của anh L nhưng đến nay chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Thành L.
- Về con chung: Chị và anh Bùi Thành L có 01 con chung là cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020, hiện nay cháu đang ở cùng chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu T và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay công nợ chung gì nên chị Đoàn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Quá trình giải quyết tại Toà án, chị H trình bày anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng hiện nay không biết có còn ở Đài Loan nữa hay không, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh L nên không thể cung cấp cho Tòa án, chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thu thập thông tin xuất, nhập cảnh đối với anh Bùi Thành L. Tại Công văn số 16887/QL-XNC-P3 ngày 30/07/2024 của Cục Q1 - Bộ C xác nhận anh Bùi Thành L, sinh ngày 10/3/1996 đã xuất, nhập cảnh ba lần, xuất cảnh gần nhất vào ngày 28/10/2023 qua cửa khẩu N bắng Hộ chiếu số P00070215, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh L vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ của mình là bà Nguyễn Thị Q, địa chỉ ở số nhà E phố C, tổ dân phố Ư, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ của anh L.
* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 01/10/2024, bà Nguyễn Thị Q (mẹ đẻ của anh L) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Bùi Thành L. Chị Đoàn Thị H là vợ anh L và là con dâu bà. Năm 2019 anh L và chị H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn về chung sống cùng vợ chồng bà. Giữa anh L, chị H có mâu thuẫn như thế nào bà không biết. Đầu năm 2022 chị H đưa con về ở bên nhà ngoại (mẹ đẻ chị H). Cuối năm 2022 anh Bùi Thành L sang Đài Loan làm ăn tại cho đến nay. Quá trình sinh sống, anh L và chị H có 01 con chung là cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020. Từ khi sang Đài Loan làm ăn, anh L có về thăm gia đình 02 lần và vẫn thường xuyên gọi điện về hỏi thăm sức khỏe bà nhưng không nói địa chỉ cụ thể, vì vậy bà cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh L tại Đài Loan để cung cấp cho Tòa án. Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh L. Quan điểm của bà việc chị H và anh L ly hôn hay không là quyền của anh, chị, bà không có
3
ý kiến. Về con chung anh L và chị H có 01 con chung là cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020; Về tài sản thì vợ chồng anh L và chị H không có tài sản gì.
Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Bản thân là mẹ đẻ anh L nên bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh L được biết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đoàn Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Bùi Thành L vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử (HĐXX) công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh L là bà Nguyễn Thị Q và thông qua các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Bùi Thành L; Về con chung là cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020 giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tài sản chung của vợ chồng chị H không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Đoàn Thị H là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Bùi Thành L đăng ký hộ khẩu tại Tổ dân phố Ư, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2] Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị Đoàn Thị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Bùi Thành L ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh L tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Nguyễn Thị Q là mẹ đẻ của anh L đều trình bày không biết địa chỉ hiện nay của anh L ở Đài Loan. Tuy anh L thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại nhưng không nói địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Do vẫn thường xuyên liên lạc với anh L nên bà Q sẽ
4
có trách nhiệm thông báo cho anh L biết. Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như các văn bản tố tụng của Toà án cho bà Q để bà thông báo lại cho anh L, đồng thời tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Đoàn Thị H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Bùi Thành L mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Đoàn Thị H và anh Bùi Thành L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị H đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Đến cuối năm 2022, anh L đi sang Đài Loan sinh sống và lao động, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sang Đài Loan anh L không quan tâm đến chị, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Đoàn Thị H được ly hôn với anh Bùi Thành L.
[2.2] Về con chung: Chị Đoàn Thị H và anh Bùi Thành L có 01 con chung là cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020. Hiện tại anh L không có mặt ở Việt Nam, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung sau khi ly hôn. Cần giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Căn cứ quy định tại các Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình cha mẹ có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận nguyện vọng của chị H, giao con chung của vợ chồng cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Trong trường hợp anh L về Việt Nam và có nguyện vọng muốn được nuôi con chung, anh chị có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
5
[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị Đoàn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh Bùi Thành L không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh L yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị Đoàn Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị H.
- Về hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị H được ly hôn anh Bùi Thành L.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Thị Huyền T, sinh ngày 08/10/2020 cho chị Đoàn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Bùi Thành L có quyền, nghĩa vụ thăm nom giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Bùi Thành L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Đoàn Thị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Bùi Thành L không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh L yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
- Về án phí: Chị Đoàn Thị H phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo Biên lai thu số 0000469 ngày 06/8/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.
- Quyền kháng cáo: Chị Đoàn Thị H và anh Bùi Thành L có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án, hoặc từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
6
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 172/2024/HNGĐ-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 172/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
