1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2023/HS-ST Ngày: 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Trung Kiên
Bà Nguyễn Thị Phượng Quyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Chí Thành – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
NGUYỄN TIẾN D;
sinh ngày 25 tháng 9 năm 1976 tại Tp .; nơi đăng ký thường trú: số nhà A đường T, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số C đường M, phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn D và bà Nguyễn Thị P; vợ: Không; con: không có; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 05/02/1994 Tòa án nhân dân quận 11 xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp tài sản của công dân và 06 tháng tù về tội Làm nhục người khác. Tổng hợp hình phạt chung của 2 tội là 24 tháng ( Bản án số 43/HSST ngày 05/02/1994); Ngày 04/3/1999 Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (Bản án số 68/HSST ngày 04/3/1999); bị bắt tạm giữ, tạm giam: 20/9/2023.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 40 phút, ngày 20/9/2023, tại trước địa chỉ nhà số B đường Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an quận T phối hợp Công an P1, quận T kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tiến D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái D1 đang mặc có 03 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong chứa bột màu trắng (Kết luận giám định số 10375/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, Kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,3296 gam, loại Heroine (bút lục 131).
2
Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến D khai nhận: D1 sử dụng ma túy Heroine khoảng 10 năm nay. Trưa ngày 20/09/2023, D1 điều khiển xe máy hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 59P3-172.76 đến khu vực Quận H (không nhớ rõ tên đường, địa chỉ), để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây D1 gặp người đàn ông (không rõ lai lịch) bán ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng/tép nên D1 đã mua 3 tép heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua, D1 giấu 3 tép heroine vào túi quần đang mặc phía trước, bên trái rồi điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, D1 lấy xe đi ra ngoài để tìm nơi sử dụng, nhưng khi đi đến trước địa chỉ số B đường Â, Phường I, quận T thì bị công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tiến D đã thừa nhận hành vi phạm tội
Đối với đối tượng bán ma túy cho D1, quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên không có cơ sở điều tra xử lý.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Ú Lớn ghi số 2060/23 (Tang vật ma túy còn lại sau khi giám định);
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, IMEI 1: 354138638162396, IMEI 2: 354138638662395;
- 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã qua sử dụng biển số 59P3-172.16. Số máy: JK03E7516109. Số khung: RLHJK0329MZ010765. D1 khai nhận xe của em gái tên là Nguyễn Thị Thanh H mua và nhờ D1 đứng tên xe để tiện việc đi lại chở mẹ đi bệnh viện hàng tuần.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã trình bày luận tội, cụ thể: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo thì hành vi cất giấu trái phép 0,3296 gam ma túy thể rắn, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo phạm tội do cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ căn cứ trên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 01 (một) đến 02 (hai) năm tù.
3
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Ú Lớn ghi số 2060/23 (tang vật ma túy còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, IMEI 1: 354138638162396, IMEI 2: 354138638662395 thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã qua sử dụng biển số 59P3-172.16. Số máy: JK03E7516109. Số khung: RLHJK0329MZ010765.. Nhận thấy, xe là tài sản cá nhân, không liên quan tới hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho bị cáo.
Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, tranh tụng với Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm giúp cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo theo các tài liệu, chứng cứ được Công an quận T lập, thì việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra quyết định tạm giữ, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra quyết định tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo Nguyễn Tiến D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ, luận tội, tranh tụng; nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua việc thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo, thì hành vi cất giữ trái phép ma túy có tổng khối lượng 0,3296 gam, ở thể rắn, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân của bị cáo Nguyễn Tiến D là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xử phạt bị cáo như đã nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Mặc dù biết tác hại của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng do muốn thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu của cá nhân mà bị cáo đã cố ý phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu, do đó cần xét xử bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện nay bị cáo đang bị nhiễm HIV. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Việc đại diện Viện kiểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về vật chứng vụ án:
- Đối với 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Ú Lớn ghi số 2060/23/23 (tang vật ma túy còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, IMEI 1: 354138638162396, IMEI 2: 354138638662395 thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã qua sử dụng biển số 59P3-172.16. Số máy: JK03E7516109. Số khung: RLHJK0329MZ010765, đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Tiến D, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng, IMEI 1: 354138638162396, IMEI 2: 354138638662395.
- - Trả lại cho bị cáo 01 xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen đã qua sử dụng biển số 59P3-172.16. Số máy: JK03E7516109. Số khung: RLHJK0329MZ010765, đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Tiến D.
- - Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Ú Lớn ghi số 2060/23 (tang vật ma túy còn lại sau giám định)
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 35/BB/2023 ngày 28/12/2023 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Xử phạt: NGUYỄN TIẾN DŨNG 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015). Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trí |
Bản án số 172/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 172/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
