Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ P

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2023/HSST

Ngày: 02/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tiến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quang Ngà
Bà Nguyễn Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 02/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 157/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2023/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Như H; sinh năm 1985 tại Gia Lai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ x, phường Chi L, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Lê Thái P, sinh năm 1984 và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/11/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 157/2015/HSST. Bản án này đã được xóa án tích.
Bị cáo được tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

*Người bị hại:
- Chị Trình Thị Ngọc B, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 07/19 Bế Văn Đ, tổ x, phường Hội P, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 30x Hùng V, tổ x, phường Hội T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Như H là người bán vé số dạo. Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/5/2023, Nguyễn Thị Như H đi bán vé số dạo, khi đi đến sạp rau của chị Trình Thị Ngọc B trước số nhà 2x đường Hồ Xuân H, tổ x, phường Yên Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì H nhìn thấy trong sọt đựng rau của chị B có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, 64GB màu vàng Gold nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, H đi đến lấy chiếc điện thoại của chị B bỏ vào trong túi đựng vé số rồi bỏ đi. Sau đó, H mang chiếc điện thoại đến tiệm điện thoại Hoàn T ở số 30x Hùng V, tổ x, phường Hội T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, bán cho anh Nguyễn Văn Q (là chủ tiệm), anh Q kiểm tra thấy điện thoại bị khóa mật khẩu nên hỏi H thì H nói điện thoại nhặt được trên đường không biết mật khẩu. Do không mở được mật khẩu điện thoại nên anh Q mua với giá 2.000.000đ thì H đồng ý, số tiền này H chưa tiêu xài. Đến ngày 10/5/2023, chị B gặp H và giữ H lại, H đã thừa nhận việc trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 64GB màu vàng Gold của chị B; đồng thời, H đã đi chuộc lại chiếc điện thoại rồi đến Công an phường Yên Đ đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, 64GB màu vàng Gold. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an phường Yên Đ đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Qua định giá, xác định 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold của chị Trình Thị Ngọc B bị chiếm đoạt vào ngày 09/5/2023, có trị giá 8.000.000 đ (tám triệu đồng).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá.

Tại Cáo trạng số: 176/CTr-VKS ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Nguyễn Thị Như H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

*Áp dụng Khoản 1 Điều 173 và điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản.

Về dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì.

Trước khi HĐXX nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết mình phạm tội, xin HĐXX giảm nhẹ, cho bị cáo mức án nhẹ nhất, để bị cáo sớm về với gia đình, nuôi dạy hai con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Như H tại phiên tòa phù hợp lời khai tại hồ sơ, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/5/2023 tại trước số nhà 2x đường Hồ Xuân H, Tổ x, phường Yên Đ, TP.P, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Thị Như H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold có trị giá 8.000.000₫ (tám triệu đồng) của chị Trình Thị Ngọc B. Ngày 10/5/2023, H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an ninh trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, nên đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 8.000.000₫ nên đã phạm vào tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Thị Như H là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có sức khỏe, có khả năng lao động, không có tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú đồng thời đã đi chuộc lại và giao nộp lại tài sản trộm cắp khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt là có cơ sở cần chấp nhận. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân không tốt, đã một lần bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, không lấy đó làm bài học, tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Ngoài ra HĐXX xét thấy nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do người bị hại sơ hở, hớ hênh trong việc quản lý, bảo vệ tài sản. Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000₫ nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với Nguyễn Văn Q, là người đã mua tài sản do Nguyễn Thị Như H trộm cắp, nhưng anh Q không biết đó là tài sản do H trộm cắp mà có. Do vậy, không xem xét, xử lý đối với anh Q về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

*Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold Cơ quan Điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu chị Trình Thị Ngọc B là phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX không đề cập đến trong phần quyết định.

*Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại chị Trình Thị Ngọc B đã nhận tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì về dân sự, nên HĐXX không đề cập đến trong phần quyết định.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Như H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

-Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như H - 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Như H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố P;
  • - Sở tư pháp;
  • - Công an thành phố P;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Thi hành án dân sự thành phố P;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2023/HSST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 172/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/5/2023 tại trước số nhà 2x đường Hồ Xuân H, Tổ x, phường Yên Đ, TP.P, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Thị Như H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold có trị giá 8.000.000đ (tám triệu đồng) của chị Trình Thị Ngọc B. Ngày 10/5/2023, H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 64Gb màu vàng Gold.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger