|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 172/2023/HS-PT Ngày 28-11-2023 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Phấn
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu chính tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 162/2023/TLPT-HS ngày 20/9/2023 đối với bị cáo Hồ Việt B do có kháng cáo của bị cáo Hồ Việt B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Hồ Việt B; tên gọi khác: không; Sinh ngày 03 tháng 9 năm 1989 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: K, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Đức H và bà Bùi Thị Y; Vợ Lê Thị Hồng O, sinh năm 1989 (Đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự, tiền án, nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có 03 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 16/03/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hồ Việt B liên lạc qua mạng xã hội Zalo cho Nguyễn Văn T nhờ T mua hộ 04 (Bốn) viên ma túy thuốc lắc để sử dụng, T đồng ý. T liên lạc qua mạng xã hội Zalo cho Bùi Văn L nhờ L mua hộ 04 (Bốn) viên ma túy thuốc lắc thì L nói “để hỏi đã, có gì gọi lại sau”. Luân nhắn tin qua mạng xã hội Z cho Lê Thị C để nhờ C mua hộ 04 (Bốn) viên ma túy thuốc lắc thì C trả lời “để em hỏi đã”. C gọi qua M cho một người đàn ông tên T1 (Không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 04 (Bốn) viên ma túy thuốc lắc thì T1 trả lời có và báo giá là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng); C nhắn tin lại cho L nói có ma túy và báo giá 04 (Bốn) viên là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). L nhắn tin lại cho T nói giá 04 (Bốn) viên thuốc lắc là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thì T đồng ý. L nói T gửi số điện thoại cho L để L gửi cho C rồi hai người tự liên hệ giao dịch mua bán ma túy. Sau khi L gửi số điện thoại của T cho C thì C gọi vào số của T, T nói C kết bạn Z và gửi số tài khoản ngân hàng qua để T chuyển tiền mua ma túy cho C. Do tài khoản ngân hàng của C bị lỗi nên C nhắn tin số tài khoản ngân hàng V số 1018857901 của bạn trai là Nguyễn Văn T2 (Sinh năm 1991; Trú tại xóm H, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An) và nói T chuyển 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) vào đó cho C (Trong đó 2.000.000 đồng tiền mua ma túy và 100.000 đồng tiền ship). Khoảng 30 phút sau, T đi đến quán Bar D1, đường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp B, T đưa tin nhắn số tài khoản C gửi cho B và nói B chuyển vào đó 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) để trả tiền mua ma túy và tiền ship. B dùng tài khoản ngân hàng của B chuyển vào tài khoản của Nguyễn Văn T2 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng). Sau khi B chuyển tiền, T gọi điện qua Z hỏi C “đã nhận được tiền chưa” thì C nói “nhận được rồi” và bảo T “chờ tý”. C gọi điện thoại qua M cho T1 nói gửi số tài khoản để chuyển tiền mua ma túy thì T1 nói tài khoản bị lỗi, T1 bảo C để tiền ở cây ATM trước chung cư H trên đường P, thành phố V cho T1 rồi lấy ma túy sau, C đồng ý. Sau đó C lên mạng tìm và liên lạc với một nam nhân viên giao hàng (Không biết tên, tuổi, địa chỉ) nhờ người này đưa tiền giao cho T1, người này đồng ý và gặp C trên đường N. Tại đây, C đưa cho người này 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và hỏi số tài khoản ngân hàng của người này để chuyển thêm 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nhưng người giao hàng nói tài khoản bị lỗi không chuyển khoản được nên C nói và đưa cho người giao hàng cầm 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đưa đi đến cây ATM trước chung cư H trên đường P để đó cho C. Người giao hàng đồng ý và yêu cầu C trả 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) tiền công thì C đồng ý.
C tiếp tục vào mạng xã hội Facebook liên hệ với Trần Quang T3 (Sinh năm 1997; Trú tại khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) nhờ T3 cầm tiền đi giao cho T1. C nói T3 gửi số tài khoản để C chuyển vào 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) nhờ T3 đi rút tiền và đưa đến để ở cây ATM trước chung cư H trên đường P để đó cho C. T3 đồng ý và yêu cầu trả 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) tiền công. Thống nhất xong, T3 lấy 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đưa đến để ở cây ATM trước chung cư H, trên đường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An rồi chụp ảnh vị trí để tiền gửi cho C. C gọi điện cho T1 nói đã để tiền ở vị trí mà T1 yêu cầu. Khoảng 15 phút sau, T1 gọi cho C nói ma túy để ở điểm chờ xe buýt trước cổng quán Bar D1 Nguyễn Sỹ S và chụp ảnh vị trí để ma túy gửi cho C. C gửi ảnh vị trí để ma túy cho T và nói T đến lấy ma túy. T đưa ảnh C gửi cho B và nói với B đây là vị trí để ma túy, B đi bộ một mình ra điểm chờ xe buýt trước cổng quán Bar D1 thì thấy dưới chân cột biển xe buýt có 01(Một) gói được gói bằng giấy mềm màu trắng, mở ra bên trong có 01(Một) bao ni lông màu trắng có chứa 04 (Bốn) viên ma túy thuốc lắc hình tròn, màu hồng. Bắc bỏ gói ma túy vào túi quần bên phải mà B đang mặc rồi đi vào quán Bar D1 N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Khi B đi đến trước sảnh quán BaD1 thì bị tổ công tác Công an xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An phát hiện kiểm tra, thu giữ trong túi quần của B 01(Một) gói được gói bằng giấy mềm màu trắng, bên trong có 01 (Một) bao ni lông màu trắng có chứa 04 (Bốn) viên ma tuý thuốc lắc hình tròn, màu hồng. Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Công an xã N, thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ của B số ma túy nêu trên và 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax gold có số thuê bao 0949429777.
Ngày 23/3/2023, Lê Thị C đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình như trên và giao nộp 01(Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone xs max màu vàng có số thuê bao 0869425228.
Cùng ngày 23/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Văn L, Nguyễn Văn T. Quá trình thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Văn L phát hiện thu giữ trong túi áo bên trái mà L đang mặc có 01(Một) gói được gói bên ngoài bằng giấy mềm màu trắng bên trong có 01(Một) bao ni lông màu trắng chứa chất tinh bột màu trắng (nghi là ma túy) và 01 (Một) bao ni lông màu trắng bên trong chứa chất tinh bột màu trắng (nghi là ma túy). L khai số ma túy này do một người bạn quen biết ngoài xã hội không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cho L từ trước tết Nguyên Đán năm 2023, L cất giữ để sử dụng và thu giữ 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu trắng có số thuê bao 0975066339. Thu giữ của Nguyễn Văn T 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax mà xanh có số thuê bao 0988682820.
Tại Kết luận giám định số 336/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 21/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Hồ Việt B gửi tới giám định là ma túy MDMA, có tổng khối lượng là 1,230 gam (Một phẩy hai trăm ba mươi gam).
Tại Kết luận giám định số 365/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 28/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Bùi Văn L gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 0,145 gam (Không phẩy một trăm bốn mươi lăm gam) và M1 chất bột màu vàng cam (ký hiệu M2) thu giữ của Bùi Văn L gửi tới giám định là ma túy (MDMA) có khối lượng là 0,480 gam (Không phẩy bốn trăm tám mươi gam).
Quá trình điều tra Hồ Việt B, Lê Thị C, Nguyễn Văn T, Bùi Văn L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hồ V (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2023.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo khác trong vụ án, tuyên án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, bị cáo Hồ Việt B có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo nhận tội và công nhận việc xét xử của Toà án cấp sơ thẩm là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo chỉ đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và cộng đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hồ Việt B giữ nguyên nội kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Việt B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hồ V (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2023.
Bị cáo Hồ Việt B không có ý kiến tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Hồ Việt B nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, hình thức, nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hồ Việt B khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ ngày 16/3/2023, tại khu vực trước quán Bar D1, đường N thuộc phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Hồ Việt B đang cất giữ trái phép 01(Một) gói ma túy MDMA, có khối lượng 1,230 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định, số ma túy nêu trên Hồ V nhờ Nguyễn Văn T mua, T nhờ Bùi Văn L mua, L nhờ Lê Thị C mua của một người đàn ông tên T1 (Không biết lai, lịch địa chỉ cụ thể ở đâu) với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác và các loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật xử lý nghiêm đối với các hành vi phạm tội về ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và xử phạt bị cáo Hồ Việt B 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hồ Việt B, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét.
- Tại cấp phúc thẩm, mặc dù bị cáo xuất xuất trình thêm tình tiết, có ông bà nội ông Hồ Bá D, bà Trần Thị L1 là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; ông nội Huy hiệu 55 tuổi đảng, đây là tình tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong vụ án bị cáo Hồ Việt B là người khởi xướng nhờ người mua ma túy để bị cáo sử dụng, nguồn tiền để mua ma túy do bị cáo trực tiếp bỏ ra; lúc bị bắt là người đang trực tiếp tàng trữ trái phép 1,230 gam ma túy MDMA. Từ hành vi nhờ mua hộ ma túy của bị cáo B để sử dụng là tiền đề cho các bị cáo khác phạm tội nên bị cáo có vai trò chính trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ phạt cho của cáo Hồ Việt B như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Việt B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hồ V (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/3/2023.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội. Bị cáo Hồ Việt B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Phấn |
Bản án số 172/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 172/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
