Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

________________

Bản án số: 172/2020/HC-PT

Ngày: 13/7/2020

V/v khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Hà; Ông Phạm Văn Tuyển.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hành chính thụ lý số 43/2020/TLPT-HC ngày 15 tháng 01 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định hành chính” do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 40/2019/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Q.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4662/2020/QĐPT-HC ngày 22 tháng 6 năm 2020.

  • * Người khởi kiện: Ông Đ
  • Nơi cư trú: Khu A 2, phường P, thành phố U, tỉnh Q. Có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Z và Z1 - Luật sư Văn phòng luật sư Z2 - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • * Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tp U, tỉnh Q.
  • Địa chỉ: Số 3, Q1, phường Q2, thành phố U, tỉnh Q.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông X - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố U; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • - Ủy ban nhân dân thành phố U, tỉnh Q.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông X - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố U theo văn bản ủy quyền số 550a/UQ ngày 12/3/2019 của Chủ tịch UBND thành phố U, tỉnh Q; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P và Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Q.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông P1 - chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường P, thành phố U, tỉnh Q theo văn bản ủy quyền số 557/UQ ngày 12/3/2019 của Chủ tịch UBND phường P, thành phố U, tỉnh Q; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và nội dung người khởi kiện trình bày thì vụ án có nội dung như sau:

Ông Đ sử dụng diện tích đất tại khu A 2, phường P, thành phố U, tỉnh Q có nguồn gốc do ông F khai phá từ trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 trên đất có nhà ở. Năm 1992, thực hiện đo vẽ bản đồ giải thửa đã tách diện tích đất trên thành 02 thửa (Trong đó thửa 87 có diện tích 170m2 nằm trong hành lang an toàn giao thông theo Nghị định 203/HĐBT ngày 21/12/1982 và thửa đất nằm ngoài hành lang an toàn giao thông). Thửa đất nằm ngoài hành lang giao thông có diện tích 460m2 ông F đã tách ra cho ông Đ1 và ông Đ mỗi người 230m2 (thửa 88 ghi tên ông Đ; thửa 89 ghi tên ông Đ1) đã được Ủy ban nhân dân thị xã U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần đất hành lang giao thông thuộc thửa 87 thực tế do ông Đ2, ông Đ, ông Đ1 mỗi người sử dụng một phần (Ông Đ sử dụng phần đất hành lang giao thông để làm cổng, sân, ngõ đi và trồng cây...).

Năm 1996 - 1998, thực hiện mở rộng Quốc lộ 18A và năm 2003 làm đường nước sạch đã giải phóng mặt bằng một phần đất hành lang giao thông từ tim đường đến chỉ giới giải phóng mặt bằng có khoảng cách 7,0m (Hồ sơ bồi thường ghi tên ông F) và đã được đền bù giải phóng mặt bằng xong.

Ngày 29/9/2015, Ủy ban nhân dân thành phố U tỉnh Q ban hành Quyết định số 6382/QĐ - UBND thu hồi 19,9m2 đất trồng cây lâu năm thuộc một phần thửa đất hành lang giao thông do ông Đ đang sử dụng theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới và diện tích thửa đất ngày 31/5/2015 (Biên bản có ông Đ, ông Đ1 và ông Khẩn ký giáp ranh) để thực hiện dự án mở rộng quốc lộ 18A giai đoạn 2 và ban hành Quyết định số 6383/QĐ - UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đối với ông Đ số tiền 8.425.190đ.

Ngày 17/3/2017, Ủy ban nhân dân thành phố U đã ban hành Quyết định số 948/QĐ - UBND phê duyệt bổ sung phương án bồi thường với 55 hộ dân trong đó ông Đ được hỗ trợ số tiền 145.270.000đ.

Không đồng ý với việc xác định diện tích đất thu hồi và xác định loại đất thu hồi nên ông Đ đã có đơn đề nghị và đã được Ủy ban nhân dân phường P trả lời tại văn bản số 179/UBND ngày 5/5/2017; ông Đ không đồng ý và có đơn khiếu nại yêu cầu xác định loại đất thu hồi là đất ở và xác định tổng diện tích đất thu hồi là 28,5m2 để bồi thường theo giá đất ở.

Ngày 02/8/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P đã ban hành Quyết định số 264/QĐ-CT không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Đ. Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, ông Đ tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U.

Ngày 22/11/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U ban hành Quyết định số 6860/QĐ - UBND giải quyết khiếu nại lần hai, không chấp nhận khiếu nại của ông Đ.

Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U, ông Đ đã khởi kiện tại Tòa án yêu cầu: Hủy Quyết định số 6860/QĐ - UBND ngày 22/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Đ; Xác định tổng diện tích đất thu hồi là 28,5m2 là loại đất ở và bồi thường theo giá đất ở.

Người bị kiện trình bày: Căn cứ hồ sơ giải phóng mặt bằng năm 1996 - 1998 và thi công đường nước sạch năm 2003, bản chứng nhận nhà đất của Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Q lập ngày 07/8/2015 được bổ sung ngày 25/2/2017, kết quả xác minh cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất hành lang giao thông ông Đ thực tế đang quản lý sử dụng là một phần đất thuộc hành lang an toàn đường bộ tiếp giáp quốc lộ 18A không thuộc diện tích đất và thửa đất năm 1992 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (200m2 đất ở và 30m2 đất vườn) của ông Đ1 và ông Đ. Năm 1996 - 1998, thực hiện mở rộng quốc lộ 18A và thực hiện thi công đường nước sạch năm 2003 đã bị giải phóng mặt bằng có chỉ giới giải phóng mặt bằng tính từ tim đường là 7,0m, được đền bù theo giá đất ở. Năm 2015, thực hiện mở rộng quốc lộ 18A giai đoạn 2 đã lấy thêm diện tích đất hành lang an toàn giao thông do ông Đ quản lý, sử dụng theo biên bản xác định ranh giới, mốc giới và diện tích thửa đất ngày 31/5/2015 tính từ tim đường đến chỉ giới giải phóng mặt bằng có kích thước 10,11m, sau khi xác định chỉ giới giải phóng mặt bằng đã trừ đi phần đã giải phóng mặt bằng năm 1996 - 1998 (cụ thể 10,11m-7,0m x chiều rộng thửa đất) còn lại 19,9m2 là chính xác.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 40/2019/HC-ST ngày 14/8/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Q đã xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 6860/QĐ - UBND ngày 22/11/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố U, tỉnh Q về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Đ và yêu cầu xác định tổng diện tích đất thu hồi 28,5m2, xác định đất thu hồi là loại đất ở và bồi thường theo giá đất ở.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quyết định số 6860/QĐ - UBND ngày 02/8/2017 giải quyết khiếu nại của ông Đ là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Q. Thời hiệu khởi kiện đảm bảo thời hạn luật định.

[2]. Về nội dung: Việc làm rõ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất như trên đã xác định diện tích đất thu hồi nằm trong phạm vi hành lang giao thông. Việc xác định loại đất để bồi thường, hỗ trợ GPMB Dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 18A đoạn Bắc Ninh - U căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chỉ giới giải phóng mặt bằng của Dự án chưa chiếm dụng vào ranh giới thửa đất theo Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho gia đình ông Đ. Ông Đ yêu cầu bồi thường toàn bộ diện tích 28,5m2 trong đó diện tích đất đã GPMB năm 1996-1998 (đã được bồi thường) là không có cơ sở.

Từ phân tích trên cho thấy việc Tòa án sơ thẩm bác yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ, nên cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên các quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện là ông Đ; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 40/2019/HC-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Q.
  2. Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính phúc thẩm. Đối trừ số tiền 300.000 đồng ông Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0007440 ngày 04/9/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Q.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN



Vũ Thị Thu Hà


Phạm Văn Tuyển
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thanh Xuân

Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- TAND tỉnh Q;
- VKSND tỉnh Q;
- Cục THA dân sự tỉnh Q;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: HSVA, PHCTP.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 172/2020/HC-PT ngày 13/07/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 172/2020/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2020
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger