Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1718/2024/DS – ST.

Ngày: 08 – 5 – 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
  2. Ông Nguyễn Cửu Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 458/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1554/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2297/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).

Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (theo giấy ủy quyền số 3899/2023/UQ-TGĐ ngày 09/11/2023) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Thiện H, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: 1 Đường F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 02 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S, lời khai tại Tòa án và trong quá trình xét xử người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:

Ngày 06/6/2018, Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Hồ Thiện H có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Paywave CreGold 472075 - 9524, với hạn mức sử dụng 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 23.500.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 12.833.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/10/2019, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:

Tính đến ngày 28/11/2023, ông H còn nợ các khoản sau:

  • - Nợ gốc: 20.749.866 đồng
  • - Nợ lãi quá hạn: 40.408.550 đồng
  • Tổng cộng: 61.158.416 đồng.

Tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 29/11/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Hồ Thiện H mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án cho đến trước phiên tòa hôm nay và cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

  1. Buộc ông Hồ Thiện H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2024 là 65.528.366 đồng trong đó:
    • - Nợ gốc: 20.749.866 đồng
    • - Nợ lãi quá hạn: 44.778.500 đồng
  2. Ông Hồ Thiện H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Ông Hồ Thiện H mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, thời hạn xét xử đã quá so với thời gian quy định, kiến nghị rút kinh nghiệm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Hồ Thiện H phải trả cho Ngân hàng số tiền đã vay theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 06/6/2018 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015.

Công an phường T, thành phố T trả lời kết quả trả lời xác minh như sau: “ông Hồ Thiện H, SN 1975 có thực tế cư trú tại địa chỉ 1 đường F phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Hồ Thiện H đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 20.749.866 đồng.

Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án, coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ trên các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét và đánh giá.

Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/6/2018. Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Paywave CreGold 472075 - 9524, với hạn mức sử dụng 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2.6%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Chữ ký xác nhận đã nhận thẻ tín dụng của ông H; Sao kê chi tiết của ông Hồ Thiện H nên có căn cứ xác định ông Hồ Thiện H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng,

Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc ông H phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 20.749.866 đồng.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H phải thanh toán tiền lãi quá hạn 44.778.500 đồng tính đến ngày 08/5/2024:

Căn cứ vào Điều 22 của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/6/2018 có quy định: “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của đơn vị phát hành thẻ”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phải thanh toán số tiền nợ lãi quá hạn 44.778.500 đồng tính đến ngày 08/5/2024.

Tổng cộng ông H phải thanh toán cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 08/5/2024 số tiền: 65.528.366 đồng (trong đó: Nợ gốc: 20.749.866 đồng, nợ lãi quá hạn: 44.778.500 đồng).

Tiền lãi tiếp tục tính trên số dư nợ gốc tương ứng, kể từ ngày 09/5/2024 trở đi theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/6/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Về thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận và rút kinh nghiệm.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Thiện H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 189, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng khoản 2 Điều 155; Điều 429; Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

    Buộc ông Hồ Thiện H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tính đến ngày 08/5/2024 số tiền: 65.528.366 đồng (sáu mươi lăm triệu năm trăm hai mươi tám ngàn ba trăm sáu mươi sáu đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 06/6/2018.

    Trong đó:

    Nợ gốc: 20.749.866 đồng.

    Nợ lãi quá hạn: 44.778.500 đồng.

    Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  2. Về án phí: Ông Hồ Thiện H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.276.418 (ba triệu hai trăm bảy mươi sáu ngàn bốn trăm mười tám) đồng.

    Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần S được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.298.998 đồng theo Biên lai thu số AA/2022/00008445 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Dưỡng

Võ Thu Phương

Nguyễn Cửu Long

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1718/2024/DS – ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1718/2024/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger