Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1715/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08 - 5 - 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Phước
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2629/2023/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1279/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1984/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm: 1995;

Địa chỉ: D đường A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Đào Thanh P; sinh năm: 1994;

Địa chỉ: C Đường H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023, bản tự khai, biên bản không thể tiến hành hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H trình bày:

Bà H và ông P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 23/8/2017. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng khá hạnh phúc. Từ năm 2021, bà H và ông P đã không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến ai. Vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Rất nhiều lần, bà đã cố gắng bỏ qua mọi lỗi lầm để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, nuôi dạy các con chung nhưng mâu thuẫn giữa hai bên không thể giải quyết. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông P không còn, hôn nhân không thể hàn gắn và đoàn tụ nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn dứt khoát với ông P để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Lê Thị Thanh H và ông Đào Thanh P có 02 con chung tên Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Thanh P vắng trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với bị đơn ông Đào Thanh P.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao các con chung tên Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Thanh H không yêu cầu ông Đào Thanh P cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H tự khai không có. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Thanh H xin ly hôn ông Đào Thanh P, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông Đào Thanh P hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh tranh chấp của vợ chồng. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với ông Đào Thanh P nhưng ông P vắng mặt không có lý do, cụ thể:

Ngày 27/11/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành niêm yết công khai thông báo thụ lý số 2629/TB – TLVA ngày 31/10/2023, giấy triệu tập đương sự ngày 13/11/2023 tại số nhà C Đường H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường P; Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu ông Đào Thanh P có mặt tại Tòa án vào lúc 9 giờ 00 phút ngày 13/12/2023 để cung cấp lời khai;

Ngày 29/12/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành niêm yết công khai giấy triệu tập đương sự ngày 19/12/2023, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 2629/TB-TA ngày 19/12/2023 tại số nhà C Đường H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường P; Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu ông Đào Thanh P có mặt tại Tòa án vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 15/01/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;

Ngày 02/02/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 2629/TB-TA ngày 25/01/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 25/01/2024 cho ông Đào Thanh P có bà Nguyễn Thị Hồng N là mẹ ruột ông P nhận và cam kết giao lại cho ông P, yêu cầu ông Đào Thanh P có mặt tại Tòa án vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 29/02/2024 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;

Ngày 20/03/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1279/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 12/03/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 12/03/2024 tại số nhà C Đường H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường P, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu ông Đào Thanh P có mặt tại Tòa án vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 10/4/2024 để tham gia phiên tòa;

Ngày 22/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành niêm yết công khai Quyết định hoãn phiên tòa số 1984/2024/QĐST – HNGĐ ngày 10/4/2024, giấy triệu tập đương sự ngày 10/4/2024 tại số nhà C Đường H, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường Phú Hữu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu ông Đào Thanh P có mặt tại Tòa án vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 08/5/2024 để tham gia phiên tòa.

Bị đơn ông Đào Thanh P vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Đào Thanh P.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H yêu cầu ly hôn ông Đào Thanh P, Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2017, bà H và ông P tự nguyện về chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 23/8/2017. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của bà H và ông P được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Bà H xác định cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho cả hai vợ chồng, mục đích hôn nhân cũng không đạt được, hai bên thường xuyên bất đồng quan điểm nên không tìm được tiếng nói chung của vợ chồng. Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Bị đơn ông P vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của bà H và ông P tại Ủy ban nhân dân phường và kết quả trả lời với nội dung: Ủy ban nhân dân phường chưa ghi nhận thông tin phản ảnh về việc bà Lê Thị Thanh H và ông Đào Thanh P nảy sinh mâu thuẫn. Trong quá trình giải quyết hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng yêu cầu bà H và ông P có mặt để cung cấp lời khai, tham gia hòa giải và Tòa án động viên hai bên suy nghĩ, nhìn nhận lại tình cảm vợ chồng, bỏ qua mọi thiếu sót, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông P vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, cho thấy ông P đã không còn thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình cũng như duy trì mối quan hệ hôn nhân này. Phía bà H vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông P. Bà H cho rằng cả hai đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy mục đích hôn nhân của bà H và ông P không còn. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định giữa bà H và ông P không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Đào Thanh P.

- Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà H và tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Bà H và ông P có 02 con chung tên Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020. Bà H yêu cầu được nuôi con chung Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày hiện nay trẻ M và H1 đang ở cùng bà. Ông P không có ý kiến về phần con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện ổn định về mặt chỗ ở cũng như sự phát triển thể chất và tinh thần cho trẻ M và H1, Hội đồng xét xử giao các con chung tên Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về phần con chung là có cơ sở.

Về mức cấp dưỡng nuôi các con chung: Bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các con chung, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các con chung là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H khai tài sản chung tự thỏa thuận, ông P không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở và phù hợp với các quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), bà Lê Thị Thanh H chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0000378 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và Điều 51, 55, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H về việc ly hôn: Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn ông Đào Thanh P (Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 23/8/2017 tại Ủy ban nhân dân phường P, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án phát sinh hiệu lực pháp luật).

Về con chung: Giao các con chung tên Đào Lê Thanh M, sinh ngày 21/12/2018 và Đào Lê Thanh H1, sinh ngày 11/10/2020 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi các con chung.

Các bên thi hành tại cơ quan có thẩm quyền về Thi hành án dân sự.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H tự khai không có.

Về nợ chung: Bà H tự khai không có.

2. Án phí ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), bà Lê Thị Thanh H chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0000378 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Lê Thị Thanh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Ông Đào Thanh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - TANDTPHCM;
  • - UBND phường Phú Hữu,
  • Quận 9 (nay là thành phố Thủ Đức);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hà Thị Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1715/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 1715/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thanh H- Đào Thanh P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger