|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 8 – 2024 V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tập
2. Ông Nguyễn Công Chính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh – C/vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 414/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phước Q - Sinh năm: 1987 (Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
Trú tại: Số 52, đường xe phường, V, quận z, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Công H – sinh năm: 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 97/14 đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q trình bày:
Tôi và ông Trần Công H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006. Đến năm 2008, chúng tôi mới đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Chúng tôi có 01 con chung là cháu Trần Nguyễn M – sinh ngày 07/12/2006.
Vợ chồng chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến tình cảm sứt mẻ. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không thể duy trì nên tôi đề nghị được ly hôn với ông Trần Công H.
Về con chung: Tôi đề nghị được nuôi dưỡng con chung đến tuổi thành niên và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Trần Công H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trình bày quan điểm:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến nay Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q. Bà Nguyễn Thị Phước Q được ly hôn với ông Trần Công H. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Nguyễn M – sinh ngày 07/12/2006 cho bà Nguyễn Thị Phước Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết là ly hôn và việc nuôi dưỡng con chung, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có cơ sở để xác định: Bà Nguyễn Thị Phước Q và ông Trần Công H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B theo Giấy chứng nhận số 143/2008 ngày 10/9/2008 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác định trong thời gian chung sống đã phát sinh những mâu thuẫn mà cho đến nay không thể hòa giải và hàn gắn được. Qua xác minh tại địa phương, chính quyền địa phương không nắm được mâu thuẫn xảy ra giữa các bên. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã nhiều lần triệu tập ông Trần Công H đến tham gia tố tụng để đối chất cũng như hòa giải các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống gia đình nhưng ông Dũng đều vắng mặt, không có thiện chí trong việc tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn để hàn gắn, đoàn tụ. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q về việc đề nghị được ly hôn với ông Trần Công H là phù hợp.
Về con chung: Từ thời điểm các bên sống ly thân, con chung là cháu Trần Nguyễn M – sinh ngày 07/12/2006 đều do bà Nguyễn Thị Phước Q nuôi dưỡng. Do vậy, giao con chung cho bà Q tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và điều kiện thực tế của các bên nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình.
Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q. Bà Nguyễn Thị Phước Q được ly hôn với ông Trần Công H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Nguyễn M – sinh ngày 07/12/2006 cho bà Nguyễn Thị Phước Q trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0009852 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
- - Tòa án ND Tỉnh Đắk Lắk;
- - VKS ND Tp.BMT;
- - VKS ND tỉnh Đắk Lắk;
- - Chi cục THADS TP.BMT;
- - UBND p. Thành Công, Tp.BMT.
- - Các đương sự;
- - Lưu HS.
Nguyễn Thị Hải An
Bản án số 171/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 171/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn và nuôi con
