TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HSST
Ngày: 30 tháng 7 năm 2024.
Tàng trữ trái phép chất ma túy
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đỗ Ngọc Thùy. |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Trọng Dĩu |
| Bà Phạm Thị Quyên | |
| - Thư ký phiên tòa: | Bà Hoàng Kim Yến – Thư ký Tòa án. |
- Đại diện VKSND quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Đình Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 160/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXX-HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Hà Công T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại Hòa Bình; Nơi thường trú: Xóm C, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông: Hà Công X, sinh năm 1964; Con bà: Lò Thị N, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 15/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Gia Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 08 năm 2005, tại Quảng Bình; Nơi thường trú: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông: Nguyễn Mạnh T1 (đã chết); Con bà: Đồng Thị M, sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt (đầu thú) ngày 15/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Lò Văn T2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 08 năm 2005, tại Hòa Bình; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Con ông: Lò Văn H, sinh năm 1985; Con bà: Hà Thị H1, sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt (đầu thú) ngày 01/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02h00' ngày 15/01/2024, tại khu vực đầu ngách E N, phường Q, quận C, Thành phố Hà Nội. Tổ công tác Công an phường Q đang làm nhiệm vụ phát hiện Hà Công T (Sinh 1996, HKTT: Chiềng Châu, M, Hòa Bình) có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan Công an phát hiện và thu giữ của T 01 túi nilông bên trong chứa 01 viên nén màu hồng và tinh thể màu trắng. Ngoài ra, cơ quan Công an còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không có biển kiểm soát và 01 Biển kiểm soát: 73P1-2177 bên trong cốp xe mô tô. Tại Công an phường Q: Hà Công T khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là của T, Nguyễn Gia Q và Lò Tiến M1 thống nhất góp tiền để mua. Sau đó, T nhờ Lò Văn T2 chỉ nơi bán ma túy để T trực tiếp đi mua ma túy về để cùng Q, M1 mục đích sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 853/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “01 túi nilông bên trong có: 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,098 gam; tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,370 gam".
Xét nghiệm ma túy đối với Hà Công T có kết quả dương tính, đối với Nguyễn Gia Q có kết quả âm tính.
Đến khoảng 07h00' ngày 15/01/2024, Nguyễn Gia Q đến Công an phường Q đầu thú hành vi phạm tội về việc góp tiền cùng Hà Công T, Lò Tiến M1 mua ma túy để sử dụng và giao nộp 01 điện thoại di động Iphone XS màu trắng.
Ngày 01/4/2024, Lò Văn T2 đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đầu thú hành vi phạm tội về việc chỉ chỗ bán ma túy cho Hà Công T. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã tiến hành khám xét nơi ở của Hà Công T, Nguyễn Gia Q tại địa chỉ P202 nhà số B ngách E N, Q, Cầu G, Hà Nội và khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn T2 tại số nhà A tổ A B, phường P, H, Hà Nội nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Công T, Nguyễn Gia Q, Lò Văn T2 khai nhận hành vi phạm tội. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ T, Q và T2 khai nhận: Ngày 14/01/2024, Hà Công T, Nguyễn Gia Q và Lò Tiến M1 đang làm bếp tại nhà hàng Quán Nhỏ địa chỉ ngõ A N, Q, Cầu G, Hà Nội thì M1 nói với T sau khi đi làm về thì mua ma túy về phòng trọ để T, M1 và Q sử dụng. M1 bảo với T là Q sẽ góp 300.000 đồng, còn M1 và T mỗi người góp 250.000 đồng, M1 là người ứng tiền đưa cho T để đi mua ma túy, gồm 500.000 đồng ma túy “đá” và 300.000 đồng mua ma túy “ngựa”, Q và T góp tiền đưa cho M1 sau. Khi Q nghe T và M1 nói chuyện, Q biết là M1 và T bàn việc góp tiền để mua ma túy về phòng trọ sử dụng nên Q ra nói với M1 để dành cho em một ít hút với, M1 bảo hút ít thì cũng phải góp, Q bảo với Mạnh vậy cho em góp 100.000 đồng, M1 không nói gì rồi đi làm việc. Đến khoảng 23h00' cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Honda Wave Biển kiểm soát: 73P1-2177 đi uống rượu với bạn tại khu vực quận H thì M1 nhờ anh Bùi Long N1 (sinh năm 2002, HKTT: Cuối Hạ, Kim B, Hòa Bình là bạn nhân viên nhà hàng với M1) chuyển số tiền 800.000 đồng từ số tài khoản của anh Nhất là 106871394512 Ngân hàng V1 vào số tài khoản 0328847573 Ngân hàng M2 của T. Đến khoảng hơn 01h00' ngày 15/01/2024, T và T2 gặp nhau tại khu vực đường N, T, Hà Nội thì T nhờ T2 chỉ chỗ mua ma túy. Sau đó, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilông ma túy bên trong có tinh thể màu trắng là ma túy “đá” và 02 viên nén màu hồng là ma túy “ngựa” với giá 700.000 đồng. Mua xong, T cho T2 01 viên ma túy “ngựa” để sử dụng. Đến khoảng 02h00' cùng ngày, T điều khiển xe mô tô trên đi về đến khu vực đầu ngách E đường N, Q, Cầu G thì bị Công an phường Q, Cầu G, Hà Nội phát hiện, kiểm tra, bắt giữ.
Quá trình điều tra: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập thập thấy đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Lò Tiến M1. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lò Tiến M1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hiện M1 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định tách vụ án hình sự Tàng trữ trái phép chất ma túy để tiếp tục điều tra và làm thủ tục truy nã đối với bị can Lò Tiến M1.
Đối với anh Bùi Long N1 được M1 nhờ chuyển tiền cho T để mua ma túy. Quá trình điều tra, xác định anh N1 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xám đen, biển kiểm soát: 73P1-2177 xác định thuộc sở hữu của bà Hồ Thị C (sinh năm 1958, HKTT: Xã C, huyện Q, Quảng Bình - là bà nội của Q). Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã tiến hành trao trả chiếc xe mô tô trên cho bà C. Hiện bà C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Về đối tượng bán ma túy cho T do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của T xác định liên quan đến vụ án. 01 điện thoại Iphone XS màu trắng thu giữ của Nguyễn Gia Q không liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Hà Công Tuấn, Nguyễn Gia Quốc, Lò Văn T phạm t: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy thực hành quyền công tố luận tội đối với các bị cáo: Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 (tình tiết đầu thú áp dụng đối với Q, T2); Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hà Công T từ 20 đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Q từ 18 đến 22 tháng tù; xử phạt bị cáo Lò Văn T2 từ 18 đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy bị cáo tàng trữ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của T do T liên lạc mua ma túy; Trả lại Nguyễn Gia Q 01 điện thoại Iphone XS màu trắng do không liên quan đến tội phạm.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xác định có tội, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo Hà Công T, Nguyễn Gia Q và Lò Văn T2 đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu thu thập được, Hội đồng xét xử xác định:
Khoảng 02h00' ngày 15/01/2024, tại khu vực đầu ngách E N, phường Q, quận C, Thành phố Hà Nội, Hà Công T có hành vi cất giữ trái phép trong người 0,468 gam Methamphetamine thì bị Tổ công tác Công an phường Q, phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy trên được mua bằng tiền do Nguyễn Gia Q, Lò Tiến M1 góp cùng Hà Công T và do Lò Văn T2 chỉ chỗ để mua ma túy. Hiện nay Lò Tiến M1 đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra đối với M1.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Công T, Nguyễn Gia Q, Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là đúng.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy. Ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác.
Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất nguy hiểm nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Q, bị cáo T2 có thêm tình tiết “đầu thú”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật cũng như sự khoan hồng của nhà nước đối với các bị cáo.
[4] Hình phạt áp dụng với từng bị cáo: Xét các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T, Q cùng góp tiền mua ma túy với mục đích sử dụng chung, nhưng bị cáo T là người trực tiếp đi mua nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T cao hơn bị cáo Q; Bị cáo T2 là người chỉ chỗ mua ma túy cho T nên mức hình phạt áp dụng với bị cáo T2 thấp hơn bị cáo Q và T.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[6] Biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,468 gam Methamphetamine bị cáo tàng trữ; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của Hà Công T là phương tiện T sử dụng liên lạc để mua ma túy; Trả lại Nguyễn Gia Q 01 điện thoại Iphone XS màu trắng do không liên quan đến tội phạm.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8]Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Công T, Nguyễn Gia Q, Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt:
Bị cáo Hà Công T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2024.
Bị cáo Nguyễn Gia Q 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 01 năm 2024.
Bị cáo Lò Văn T2 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 4 năm 2024.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Phong bì niêm phong chứa ma túy có chữ ký của đối tượng là Hà Công T và có chữ ký của GĐV Trương Trọng V trên mép dán 01 Phong bì niêm phong. Theo Kết luận giám định số: 853/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, bên trong 01 Phong bì niêm phong có chứa: 01 túi nilong bên trong có: 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,098 gam./. Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,370 gam./.
Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (Một) Điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu đen bị nứt vỡ màn hình thu giữ của đối tượng Hà Công T. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
Trả lại bị cáo Nguyễn Gia Q 01 (Một) Điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu trắng bị nứt vỡ mặt lưng.
(Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo Biên bản giao nhận số 197.GN/THA-CA ngày 17/7/2024).
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Ngọc Thùy |
Bản án số 171/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 171/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
