Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/DS-ST

Ngày: 29-7-2024.

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tần Quốc Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Võ Thanh Nga.
  • 2/ Ông Lê Văn Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 231/2023/TLST-DS ngày 26/10/2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 527/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 625/2024/QĐST-DS giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Nguyễn Trung T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Số X T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 28/10/2019, Ông T có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tín dụng Visa (số thẻ 472074 - 3819) với hạn mức sử dụng là 50,000,000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 290,928,890 đồng.

1

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 263,624,202 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 54,443,664 đồng sang nợ quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%). (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 29/07/2024, Ông T còn nợ các khoản sau:

  • Dư nợ gốc: 54,443,664 đồng
  • Lãi quá hạn : 69,361,460 đồng
  • Tổng cộng: 123,805,124 đồng

(Bằng chữ: Một trăm hai mươi ba triệu, tám trăm lẻ năm nghìn, một trăm hai mươi bốn đồng)

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu Ông T1 có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Tại phiên tòa:

Bị đơn ông Nguyễn Trung T vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng tín dụng 2970528 của Ngân hàng TMCP S thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở vì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại hợp đồng đã ký kết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về pháp luật tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trung T thanh toán số nợ còn thiếu của Hợp đồng tín dụng. Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện Tại địa chỉ Số X T, Phường A có ông Nguyễn Trung T, sinh năm 02/6/1983. Số CCCD: [...] đăng ký thường trú. Hiện nay không còn ở địa chỉ trên, đi đâu không rõ.

Tại thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Trung T có địa chỉ nơi cư trú tại: X T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Đơn tường trình của nguyên đơn thì nguyên đơn không biết địa chỉ nào khác của bị đơn, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, địa chỉ: X T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của ông Nguyễn Trung T. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về thời hiệu khởi kiện:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 28/10/2019, Ngân hàng TMCP S tín dụng số: 2970528 về việc cấp tín dụng cho Ông Nguyễn Trung T với khoản vay trị giá 50,000,000 đồng.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay Ông Nguyễn Trung T đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay phía Ngân hàng TMCP S đã giải ngân.

Ngày 26/6/2023, Ngân hàng TMCP S đã nộp đơn khởi kiện và đã được Tòa án cấp Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện. Như vậy, vụ án dân sự vẫn còn thời hiệu

3

khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.

1.4. Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn tại địa chỉ nơi cư trú nhưng ông Nguyễn Trung T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trung T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai có mặt tại phiên tòa vào ngày 28/6/2024 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

2.1. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc buộc ông Nguyễn Trung T phải có trách nhiệm thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng với số tiền là 123,805,124 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S thì có cơ sở khẳng định: Ngày 28/10/2019, ông Nguyễn Trung T đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S giá trị là 50.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi ký kết ký kết, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Nguyễn Trung T. Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 10/03/2023 ông Nguyễn Trung T đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Như vậy, ông Nguyễn Trung T còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền là 123,805,124 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

2.2. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc buộc ông Nguyễn Trung T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/07/2024 là 123,805,124 đồng.

Đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại hợp đồng tín dụng của Ngân hàng TMCP S thì ông Nguyễn Trung T còn phải thanh toán phía công ty số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 69,361,460 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Trung T phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/07/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.

4

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;

- Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;

- Căn cứ vào Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011;

- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Trung T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến 29/7/2024 tổng số tiền gốc và lãi của ông Nguyễn Trung T cần phải thanh toán là: 123,805,124 đồng. Trong đó:

  • Dư nợ gốc: 54,443,664 đồng
  • Lãi quá hạn: 69,361,460 đồng
  • Tổng cộng: 123,805,124 đồng

Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 20/6/2024 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng ông Nguyễn Trung T phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn do hai bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6,190,256 đồng (Sáu triệu một trăm chín mươi ngàn hai trăm năm mươi sáu đồng).

- Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 2.342.000 đồng Ngân hàng TMCP S đã nộp theo biên lai số AA/2023/000042500 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

5

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Tần Quốc Bình

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 171/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: SACOMBANK-NGUYỄN TRUNG THÀNH
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger