|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2023/HS-ST
Ngày: 26/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp
Các hội thẩm nhân dân: Ông Luân Văn Lý
Ông Đinh Văn Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 155/2023/TLST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2023/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Hoàng Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/01/1983 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn P (đã chết); Con bà: Triệu Thị H - sinh năm 1959 (Trú tại: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); Có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03; Vợ: Triệu Thị M (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2004;
Tiền án: Không;
Tiền sự: 01 tiền sự:
- + Ngày 27/02/2023: Công an thành phố C xử phạt 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản;
Nhân thân: Ngày 17/7/2020 đến 15/4/2022 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.
Bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ 26/8/2023 đến nay; Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Bị hại: Nông Thị N – sinh năm 1981
Trú tại: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tạ Thị Thu Hạnh
Trú tại: Tổ B, phường D, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Hoàng Văn Hạ
- Nông Thị Minh Hằng
Trú tại: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
(Vắng mặt không lý do).
Trú tại: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
(Vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra xác định:
Hồi 13h50' ngày 08/7/2023 Công an xã C, thành phố C nhận đơn trình báo của bà Nông Thị N (sinh ngày 29/01/1981; trú tại: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) về việc khoảng 13h00' ngày 08/7/2023 Hoàng Văn K (sinh ngày 29/01/1983; trú tại: xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) lấy trộm 01 (một) con chó nặng khoảng 16kg (mười sáu kilogam) của bà. Công an xã C tiến hành xác minh xác định được Hoàng Văn K đã lấy trộm con chó của bà N đem bán cho bà Tạ Thị Thu H1 (sinh ngày 26/4/1976; trú tại: tổ B, phường D, thành phố C) là chủ cửa hàng thịt chó tại tổ B, phường D, thành phố C; tạm giữ của Kiêm 640.000₫ (sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), tạm giữ của H1 01 (một) con chó lông màu vàng, nặng 16kg (mười sáu kilogam) và chuyển hồ sơ tới cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09h00' ngày 08/7/2023, Hoàng Văn K đến nhà mẹ đẻ là Triệu Thị H (sinh năm 1959) tại xóm A, xã C, thành phố C để xin tiền bà H để mua ma túy sử dụng, bà H không cho tiền, K đi về nhà. Đến khoảng 11h45' ngày 08/7/2023, K tiếp tục đến xin tiền bà H nhưng không được. Cùng lúc, K thấy con chó của Nông Thị N (là chị dâu) đang ở ngoài sân nên nảy sinh ý định lấy trộm con chó đem bán lấy tiền mua ma túy. Khoảng 12h00' Kiêm thấy N đang ăn cơm trong nhà, bà H đang ngủ trong buồng, con chó nằm ở ngoài sân không có người xung quanh nên K tiến lại gần dùng hai tay ôm con chó rồi đi vòng qua phía sau bếp nhà N và đi bộ lên đường cái về hướng thành phố C. Kiêm đi bộ lên đến đỉnh dốc thuộc xóm A, xã C rồi tiếp tục bước bộ đi qua nhà ông Hoàng Văn H2 (sinh ngày 27/10/1966) ở đầu xóm. Nhìn thấy ông H2 đang hái quả trên cây mác mật, K hỏi xin ông H2 một đoạn dây để buộc cổ con chó, ông H2 bảo K tự tìm nhưng K không vào nhà ông H2 mà tiếp tục ôm con chó đi ra ngoài đường rồi xin đi nhờ một người đàn ông điều khiển xe mô tô chở đến quán thịt chó của Tạ Thị Thu H1 tại tổ B, phường D và bán con chó cho H1 được 660.000đ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Sau khi bán được chó, K đi nhờ xe của một người khác đến cổng bệnh viện đa khoa tỉnh C để tìm mua Heroine để sử dụng nhưng không mua được nên K đi xe ôm từ khu vực Cổng bệnh viện đa khoa tỉnh C đến B cũ thành phố C và lấy 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) trong số tiền bán chó để trả tiền xe ôm. Tại Bến xe khách cũ, khi K đang tìm mua Heroine thì Công an xã C đến đưa K về trụ sở làm việc.
Ngày 07/8/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ban hành yêu cầu định giá tài sản số 271 xác định giá trị tài sản bị trộm cắp. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Giá trị tài sản (01 con chó) là 1.130.656đ (một triệu một trăm ba mươi nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng).
Ngày 28/8/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra yêu cầu tra cứu tiền án, tiền sự đối với Hoàng Văn K. Tại trích lục tiền án, tiền sự số 7151 ngày 13/9/2023 của Phòng hồ sơ Công an tỉnh C kết luận: Hoàng Văn K có 01 tiền sự đã bị Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa chấp hành xong lại tiếp tục vi phạm.
Hành vi của Hoàng Văn K đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 158/CT-VKSTP ngày 15/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố. Bị cáo khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên 11h45’ngày 08/7/2023 Hoàng Văn K đến nhà mẹ đẻ là Triệu Thị H để xin tiền bà H mua ma túy sử dụng nhưng bà H không cho. Kiêm nảy sinh ý định lấy trộm con chó của nhà bà N đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Kiêm ôm con chó ngồi sau đi nhờ xe đến quán thịt chó của bà Tạ Thị Thu H1 tại tổ B, phường D và bán 01 con chó cho bà H1 được 660.000₫.
Bị cáo nhất trí với bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C.
Bị hại bà Nông Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung: Bà N xác nhận đã nhận lại được tài sản do bị cáo trộm cắp, bà không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi liên quan bà Tạ Thị Thu H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bà mua con chó là 660.000đ (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 09 (chín) đến 12 (mười hai ) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người có quyền lợi liên quan là bà Tạ Thị Thu H1 số tiền bà đã bỏ ra mua con chó là 660.000₫ (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Bị cáo đã bị thu giữ số tiền 640.000 đ (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), cần được trả lại cho người có quyền lợi liên quan là bà Tạ Thị Thu H1. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 20.000 đ (Hai mươi nghìn đồng) để bồi thường cho bà H1.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội.
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản.
Có đủ căn cứ kết luận: Do bản thân nghiện ma túy nên 11h45’ngày 08/7/2023, Hoàng Văn K đã lấy 01 con chó của chị dâu là Nông Thị N đem đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Kiêm dùng hai tay ôm con chó rồi vẫy xe xin đi nhờ một người đàn ông điều khiên xe mô tô chở đến quán thịt chó của Tạ Thị Thu H1 tại tổ B, phường D và bán con chó cho bà H1 được 660.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp được là 1.130.656đ (một triệu một trăm ba mươi nghìn sáu trăm năm mươi sáu đồng) nhưng do bị cáo đã có 01 tiền sự tội trộm cắp tài sản ngày 27/02/2022 chưa được xóa lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 17/7/2020 đến 15/4/2022 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong. Ngày 27/02/2023: Công an thành phố C xử phạt 2.500.000đ về hành vi Trộm cắp tài sản chưa thi hành, bị coi là đang có tiền sự, là người sử dụng ma tuý nên có nhân thân xấu.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4]. Về hình phạt: Bị cáo K đang có 01 tiền sự về tội trộm cắp nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội để có tiền sử dụng ma túy, nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không nhất thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản thiệt hại do tội phạm gây ra đã được khắc phục, bị hại không có yêu cầu khác, toà án không giải quyết, cần ghi nhận trong bản án.
Bị cáo xác nhận đã nhận được số tiền 660.000đ từ việc bán tài sản trộm cắp, bị cáo đã sử dụng 20.000đ; bị thu giữ 640.000 đ (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Xét thấy bà H1 không biết con chó do bị cáo phạm tội mà có nên cần chấp nhận yêu cầu trả lại số tiền đã mua tài sản trộm cắp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc bị cáo phải nộp số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) đã sử dụng để đảm bảo bồi thường 660.000đ (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). .
[6]. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 26/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 353, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015, xử:
Xác nhận bị hại Nông Thị N đã nhận lại tài sản là 01 con chó màu vàng, không có yêu cầu khác, toà án không giải quyết.
Bị cáo Hoàng Văn K phải bồi thường cho bà Tạ Thị Thu H1 số tiền 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng). Xác nhận đã thu giữ của bị cáo số tiền 640.000 đ (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) trong 01 phong bì niêm phong tang vật có thông tin như quyết định và biên bản giao nhận vật chứng có trong hồ sơ vụ án và được đối trừ khi thi hành án. Bị cáo phải nộp lại số tiền 20.000 đ (Hai mươi nghìn đồng) để bồi thường cho bà H1.
Xác nhận vật chứng của vụ án đã được chuyển đến kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 16 ngày 16/11/2023.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc bị cáo Hoàng Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần của bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hợp |
Bản án số 171/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 171/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn Kiêm phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
